phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự học của sinh viên Chương 2. Thực trạng về hoạt tự học của sinh viên Khoa Sư phạm tiếng Anh của trường Đại học Ngoại Ngữ -Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 3. Biện pháp quản lí hoạt động hoạt tự học và quản lí hoạt động tự học của sinh viên Khoa Sư phạm tiếng Anh của trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1.
Vài nét về tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Theo quan điểm của J.Vial, Nhà sư phạm Pháp “.việc dạy phải tạo ra tình huống học tập lí tưởng tạo điều kiện cho đông đảo học sinh hoạt động tự giác, tích cực độc lập, sáng tạo, tạo điều kiện cho học sinh kiểm soát việc tự học của mình” [20, tr. Nhà sư phạm vĩ đại Tiệp khắc: J. Comexiki (1592-1670) ông tổ của nền sư phạm cận đại cũng đã đề cập đến các phương pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, Ông cho rằng: “Ban giám hiệu và thanh tra nhà trường có thể kích thích lòng ham học của học sinh bằng cách trực tiếp tham gia vào các hoạt động chung của lớp, chẳng hạn các buổi luyện tập, ngâm thơ, thảo luận chuyên đề, các kì thi hoặc lễ tốt nghiệp… một hình thức nữa là tăng cường khen thưởng.
Theo Bobbi Deporter&Mike Hernacki;trong quyể n sách có tựa đề “Phương Pháp học tập siêu tốc” của NXB Tri thức (2007), đã trình bày khá đầy đủ “kĩthuâ ̣t học tập” trên cơ sở tự mình xác lập và thực hiê ̣n “Phương Pháp học tập siêu tốc”. Ở đây coi trọng vai trò tự giác trong học tập của người học, xác định động lực tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học [5, tr. Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc là một tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong học tập và tự ho ̣c, tự rèn luyện. Tại hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập.
Khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950 Bác đã khuyên học viên "Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập"Trong công tác huấn luyện cán bộ,Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: “lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đạo góp vào. Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định tới kết quả học tập.
Việc tự học phải xuất phát từ động lực thôi thúc của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần có sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy. - Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kì, Lê Khánh Bằng. Những công trình nghiên cứu này đều xác nhận vai trò thiết yếu của tự học trong quá trình học tập và rèn luyện để hội nhập và cũng đã đề cập đến những biện pháp hiệu quả trong vấn đề quản lí và đầu tư nâng cao chất lượng tự học, xác định những yêu cầu cơ bản để tiến hành và thực hiện việc tự học. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, cải tiến khung chương trình đối với nội dung phù hợp, điều chỉnh hợp lí giữa thời gian và tự học, bổ sung, trang bị phương tiện học tập hiệu quả.
Một trong những cái tiến quan trọng đó vẫn nhằm vào việc tạo ra hiệu quả tự học bằng việc nhà trường tạo nên những kích thích huấn luyện tinh thần, thái độ và quyết tâm tự học cho người học. Các đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ về vấn đề tự học gần đây như luận văn của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Vân”Biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viên Khoa ngôn ngữ và văn hóa Pháp”, Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Văn Tâm “Quản lí hoạt động tự học của học viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc”. cũng đã đề xuất được những phương hướng, biện pháp quản lí nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động tự học. Việc kế thừa tiếp thu những thành quả của các công trình nghiên cứu trên một cách có chọn lọc để đề xuất những biện pháp quản lí hoạt động tự học cho sinh viên Khoa Sư phạm Tiếng Anh của trường ĐHNN -ĐHQGHN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay là ý nghĩa thực tiễn của luận văn này.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường 1. Quản lí Quản lí là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Vì vậy, khi đưa ra khái niệm về quản lí, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lí cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tế công việc quản lí của mình. Cụ thể: - Theo từ điển Tiếng Việt thì Quản lí là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” [35] - Harold Koontz, được coi là người tiên phong của lí luận quản lí hiện đại viết: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi cá thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [16, tr. Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì Quản lí là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức[6, tr.
Như vậy, khái niệm quản lí được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên các quan điểm trên đều đề cập đến bản chất chung của khái niệm quản lí: - Quản lí là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Chức năng quản lí Chức năng quản lí là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí. Quản lí có bốn chức năng cơ bản là : Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn chức năng của quản lí có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lí. Chu trình quản lí bao gồm bốn giai đoạn với sự tham gia của hai yếu tố quan trọng là thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lí đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lí tiếp theo. Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.
Chu trình quản lí Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lí. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lí để đạt được mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà quản lí có cái nhìn tổng thể, toàn diện từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi.
Ngoài ra nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra. Không có kế hoạch sẽ không thể xác định mục tiêu mà tổ chức đang hướng tới có đúng hay không và khi nào thì mục tiêu sẽ đạt được. Chính vì thế mà việc kiểm tra sẽ thiếu căn cứ. Nhà quản lí thông qua kế hoạch đã đề ra mà có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó, đảm bảo để hướng đúng mục tiêu đã định.
Tổ chức: Là sự kết hợp hoạt động của các bộ phận sao cho chúng liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lí tạo thành một hệ thống thống nhất 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như một cơ thể sống. Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lí thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí. Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lí có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực, vật lực.
Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lí để tác động đến đối tượng bị quản lí một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ, hướng họ vào việc đạt mục tiêu chung. Chỉ đạo là chức năng thực thể hiện năng lực điề u khiể n và dẫn dắ t của người quản lí. Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia. Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lí.
Mục đích của kiểm tra nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt các mục tiêu đã định. Kiểm tra là một quá trình bao gồm các bước: xây dựng các tiêu chuẩn, đo lường việc thực hiện, đánh giá việc thực hiện kế hoạch so với tiêu chuẩn. - Quản lí vừa làkhoa học vừa là nghệ thuật. Quản lí mang tínhkhoa học vì nó luôn là hoạt động có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể.
Quản lí còn mang tính nghệ thuật vì nó là một hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đầy biến động, không có những nguyên tắc chung cho mọi tình huống.