Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí trường đại học theo tiếp cận TQM Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lí trường Đại học theo tiếp cận TQM Chương 3: Mô hình quản lí trường Đại học Điện lực theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể (TQM) và các biện pháp triển khai 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƢỢNG TỔNG THỂ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lí trƣờng đại học theo tiếp cận TQM 1. Một số công trình nghiên cứu về quản lí trường đại học theo tiếp cận TQM ở nước ngoài Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management) thường đươ ̣c viế t tắ t là TQM là một phương thức QL kinh doanh chiến lược nhằm gắn kết nhận thức về chất lượng cho tấ t cả thành viên tổ chức , xâm nhập, lan tỏa trong tất cả các qui trình tổ chức. TQM đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất, bệnh viện, các ngành công nghiệp và dịch vụ, cũng như các chương trình nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học kĩ thuật, trong các lĩnh vực an ninh, quốc phòng và GD.
Nghiên cứu về TQM trong GDĐH có một số tác giả sau: Edward Sallis (2002), trong cuốn sách Total Quality Management in Education, tiếp cận TQM được áp dụng cho GD nói chung, trường ĐH nói riêng trên cơ sở mở rộng và phát triển hệ thống ĐBCL giáo dục. TQM nhằm tạo ra một nền văn hoá chất lượng, trong đó mỗi người đều cố gắng đáp ứng tối đa yêu cầu học tập của người học và các đòi hỏi của xã hội. TQM rất hữu hiệu khi những người thực hiện nhận thức được các khái niệm và công cụ đo lường, quan trắc, đánh giá chất lượng, cũng như khi những người thực hiện có ý thức về việc nâng cao chất lượng, coi chất lượng là hàng đầu [55]. Marmar Mukhopadhyay (2006), trong cuốn sách Total Quality Management in Education.
Second Edition, Sage Publications, tác giả đề cập đến chất lượng trong trường ĐH, áp dụng các nguyên tắc, triết lí, khách hàng, đánh giá của nhà trường, phát triển nhân lực, lãnh đạo, thực hiện TQM. Việc xây dựng mô hình và kinh nghiệm của ông về thiết lập trường ĐH trong bối cảnh văn hóa cụ thể, một kế hoạch chiến lược khả thi cho việc áp dụng TQM [66]. Dale và Boaden (Managing quality, 2010), “Những nhà trường ĐH cố gắng thay đổi văn hóa vì những lí do khác nhau. Sự thay đổi văn hóa là một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần quan trọng của qui trình nâng cao chất lượng và có những ý nghĩa phạm vi rộng rãi cho toàn nhà trường” [46].
Các tác giả cũng đề cập đến 5 ưu tiên đối với các trường chất lượng. Xây dựng một ý thức cộng đồng trong tổ chức giáo dục đó. Vai trò trung tâm của ngôn ngữ: nghiên cứu và sử dụng các biểu tượng. Chương trình giảng dạy có sự kết hợp (liên kết).
Tạo ra một môi trường để học tập sáng tạo: một nơi để học tập chủ động, một nơi mà mọi người học cách sáng tạo, không chỉ tuân theo qui định; ở đây họ học cách hợp tác, cũng như cạnh tranh và tương tác. Tạo ra một môi trường nhằm khẳng định việc XD tính cách đối với từng SV. Silva Roncelli-Vaupot (2000) trong quyển Leading for Quality đã quan niệm hệ thống QLCL (Quality management systems) trong trường ĐH là hệ thống nhằm ĐBCL giáo dục thông qua việc sử dụng những quá trình thích hợp để QL và giám sát những người thực hiện (GV, CBQL, nhân viên và cả người học). Mục đích của nó là để hoà nhập quá trình đào tạo với cơ chế thích hợp để ĐBCL trong từng công đoạn, từng bộ phận, từng giai đoạn của quá trình đào tạo.
Quá trình đào tạo được lập kế hoạch cụ thể, sản phẩm đào tạo được thiết kế trước, chiến lược nhằm đạt được mục tiêu đề ra đã được định sẵn, hệ thống đào tạo được định kỳ rà soát, kiểm tra. Ngoài việc tăng cường ĐBCL về CSVC, trang thiết bị, về đội ngũ GV, chương trình, tài chính, chất lượng tuyển sinh, thì những vấn đề khác rất quan trọng là chất lượng và hiệu quả của các quá trình QL, đào tạo và động lực của những người tham gia nhằm đạt được các sản phẩm GD có chất lượng tốt hơn, ưu việt hơn. Mô hình hệ thống QLCL giáo dục tác giả đề xuất khá hợp lí, trong đó mô hình TQM có thể áp dụng có hiệu chỉnh để QLCL giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [82]. Rất nhiều tác giả đề cập vấn đề vận dụng TQM vào quản lí trường ĐH.
Việc có thể áp dụng TQM vào trường ĐH chú trọng từ nhiều tác giả như DeCosmo et al. Họ chỉ ra rằng các trường ĐH đã chuyển hướng sang TQM do sự phát triển mạnh về số lượng của SV, thiếu cách thức lãnh đạo phù hợp, nhu cầu trách nhiệm với xã hội, cộng đồng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và sự thay đổi các quan điểm đối với các trường ĐH tăng cao. Sự thích nghi của TQM trong GD cũng do sự thúc ép về nguồn và sự tăng cấp bách (DeCosmo et al. Tuttle (1994) cho rằng việc áp dụng TQM có tác động tới cả GV và SV, tăng cường hiệu quả giảng dạy cũng như học.
Crawford và Shutler (1999) đã làm một phân tích so sánh có ích, thú vị về áp dụng TQM trong GD. Theo đề xuất của Crosby và Deming. Sherr và Lozier (1991) đưa ra bức tranh TQM như 1 mô hình ba chiều, bao gồm thiết kế, quá trình và đầu ra. Hơn nữa, xây dựng về thuyết TQM khi áp dụng cho GD, các tác giả chọn 5 điểm trọng tâm sau: nhấn mạnh sứ mệnh và khách hàng, hệ thống tiếp cận quá trình, phát triển mạnh mẽ về nguồn nhân lực, tư duy lâu dài và sự cam kết….
Có một công trình đáng kể về áp dụng TQM trong GD. Hansen và Jackson (1996), trong một thử nghiệm, ứng dụng TQM (họ gọi là “Cải tiến chất lượng toàn diện”) cho một lớp học. Họ đã ứng dụng các nguyên tắc trọng tâm khách hàng (SV), phương pháp nhóm (liên quan đến SV) và cải tiến liên tục. Thực nghiệm cho những kết quả đáng ghi nhận.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã giải quyết khá toàn diện cơ sở lí luận của hệ thống QLCL nói chung, mô hình tiếp cận TQM nói riêng và khả năng vận dụng nó vào quản lí trường ĐH. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục nghiên cứu nhằm vận dụng TQM vào một nhà trường cụ thể. Một số công trình nghiên cứu về quản lí trường đại học theo tiếp cận TQM ở trong nước Ở Việt Nam vấn đề quản lí trường ĐH theo tiếp cận TQM từ trước đến nay, là một đề tài mới phát triển, có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về QLGD trong những năm gần đây. Do vấn đề của toàn cầu hóa về kinh tế, văn hóa đang diễn ra nhanh chóng, hợp tác phát triển và cạnh tranh hết sức mạnh mẽ, nên giáo dục được coi là nền tảng vững chắc để đưa nhân loại tiến lên, quyết định sự hưng thịnh hoặc suy thoái của các dân tộc.
GD 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nói chung và GDĐH nói riêng đang chuyển dần sang xu hướng xã hội hóa. Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đã và đang trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Để quản lí và nâng cao chất lượng đào tạo, các cơ quan quản lí Nhà nước: Bộ GD&ĐT, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Đo lường và Kiểm định chất lượng đã ban hành nhiều văn bản, tiêu chuẩn và tiêu chí để đánh giá chất lượng GD đào tạo và bước đầu vận dụng vào quản lí các cơ sở GDĐH. Việc nghiên cứu vận dụng các tiêu chuẩn quốc tế mang tính đồng bộ áp dụng vào công tác quản lí và đánh giá chất lượng đào tạo là tối cần thiết đối với các cơ sở GD trong xu thế hội nhập.
Tuy nhiên đây là vấn đề khó, phức tạp, phạm vi rộng và phong phú. Hiện nay, đề cập đến vấn đề chất lượng, QLCL, các mô hình QL vận dụng trong GDĐH và đào tạo ở trong nước có nhiều tác giả, các nhà QLGD, nhà khoa học nghiên cứu, biên soạn các tài liệu, giáo trình, vận dụng một số mô hình QL giáo dục đào tạo, trong đó tiêu biểu như: Nguyễn Lộc với các công trình như “Lí luận về quản lí” [18], “Cơ sở lí luận xây dựng chiến lược trong giáo dục” [20], “Cơ sở lí luận quản lí trong tổ chức giáo dục” [17], “TQM hay là Quản lí chất lượng tổng thể trong giáo dục” [19], tác giả đã đi sâu phân tích TQM từ khái niệm, tên gọi, nội dung đến sự cần thiết và cơ hội vận dụng vào các trường ĐH nước ta. Nguyễn Đức Chính trong cuốn “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” [4], “Chất lượng và kiểm định chất lượng trong cơ sở giáo dục đào tạo” [5] đã đề cập đến bộ tiêu chí đánh giá và hướng dẫn đánh giá chất lượng, tác giả đưa ra các quy chuẩn của các cơ sở GD để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời tác giả cũng tập trung phân tích các lí thuyết kiểm định chất lượng và mô hình kiểm định, ĐBCL trong GDĐH. Trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về KĐCL và QLCL giáo dục do tác giả làm chủ nhiệm (1999-2000) tác giả đã khẳng định sự phù hợp TQM với các điều kiện đặc thù của GD và trường ĐH.
Trong công trình Về khái niệm “chất lượng” trong giáo dục và đào tạo [21] và Quản lí, lãnh đạo nhà trường thế kỉ XXI [22], Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến môi trường văn hóa của nhà trường, về định nghĩa, nội dung QL có tầm quan trọng hàng đầu đối với TQM. Đưa ra quan điểm và giải pháp GDĐH, định nghĩa về môi trường văn hóa chất lượng, Lê Đức Ngọc đã gắn kết khái niệm này với công việc hàng ngày của đội ngũ CBQL, GV và nhân viên trong nhà trường ĐH, bao gồm 5 môi trường đó là: Môi trường học thuật, môi trường xã hội, môi trường nhân văn, môi trường văn hóa, môi trường tự nhiên [29], [30]. Phạm Thành Nghị đi sâu nghiên cứu về chất lượng và chất lượng GDĐH, các chỉ số, chuẩn mực, hình thức đánh giá, ĐBCL và TQM trong GDĐH, đồng thời tác giả cũng đưa ra các nội dung lí thuyết áp dụng trong GDĐH nói chung, trường ĐH nói riêng [31].