phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài. Trên thế giới mô hình TTHTCĐ đã đƣợc nghiên cứu và phát triển từ rất sớm ở một số nƣớc Châu Âu nhƣ Đan Mạch, Đức và một số nƣớc châu Á nhƣ Nhật bản, Thái Lan, Ấn Độ. Nhật bản và Thái Lan là hai nƣớc có sự phát triển mạnh mẽ nhất về TTHTCĐ.
* Ở Nhật Bản Nhật Bản là một trong những nƣớc có lịch sử lâu đời về giáo dục không chính quy. Vào thời kỳ Edo ( khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX) các trƣờng công mở chủ yếu phục vụ cho con cháu các quan lại và các thành viên trong hoàng tộc. Bên cạnh đó ngoài giáo dục chính quy của Nhà nƣớc hoặc địa phƣơng ngƣời ta còn tự mở lớp XMC tƣ nhân cho con cháu trong làng, trong xã gọi là Tê ra kô ya. Mô hình Tê ra kô ya đƣợc phổ cập và phát triển nhanh chóng trong cả nƣớc, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, cũng nhờ Tê ra kô ya trẻ em trong làng, xã đã có thể biết đọc, biết viết và cập nhật các kiến thức khác phục vụ đời sống hàng ngày.
Việc mở rộng mô hinh Tê ra kô ya trên khắp đất nƣớc Nhật Bản đã góp phần đáng kể cho sự nghiệp phát triển của đất nƣớc Nhật Bản thời kỳ công nghiệp hóa. Sau chiến tranh thề giới lần thứ II, Bộ Giáo dục Nhật Bản sáng tạo một mô hình cơ sở giáo dục mới gọi là Kômikan ( sau này gọi là Trung tâm học tập cộng đồng). Ngƣời đề xuất ra Trung tâm học tập cộng đồng là giáo sƣ Teranaka Sakuto một nhà cải cách giáo dục Nhật Bản của trƣờng đại học Matsumoto.Bộ Giáo dục Nhật Bản đã thông báo khuyến khích việc thành lập các Kômikan. Kômikan tại các thành phố, thị trấn, làng xã có vai trò nhƣ một trung tâm văn hoá tại địa phƣơng, nó là nơi cung cấp địa điểm, các phƣơng tiện, trang thiết bị 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho giáo dục xã hội nhằm mục đích phục vụ lợi ích của dộng đồng, với những chƣơng trình đặc trƣng đƣợc xây dƣng bởi ngƣời quản lý và nhân viên của trung tâm.
Các trung tâm này có cơ sở vật chất nhƣ: phòng học, phòng thƣ viện, phòng họp và các trang thiết bị khác là sách, báo, máy chiếu phim, dụng cụ thể thao. Các chƣơng trình đƣợc thực hiện tại trung tâm gồm: các chƣơng trình ngắn hạn phục vụ cho phụ nữ và thanh niên, chƣơng trình cho ngƣời lớn, các buổi sinh hoạt văn học, hội họp, triển khai các hoạt động cộng đồng, chiếu phim, thể thao, văn hoá văn nghệ dân gian. Số Komikan ở Nhật bản phát triển qua các năm: 3.947 Trung tâm (năm 2002) và năm 2006 ở Nhật Bản có 18.000 Kômikan hoạt động dƣới sự bảo trợ của nhà nƣớc trung ƣơng, các địa phƣơng và 76.883 Kômikan tự quản. Theo đạo luật giáo dục - xã hội Nhật Bản ban hành năm 1949 Komikan là một bộ phận của hệ thống giáo dục ngƣời lớn và giáo dục thƣờng xuyên trong hệ thống giáo dục của Nhật vì vậy các Komikan đƣợc hỗ trợ một phần kinh phí từ trung ƣơng và địa phƣơng cho việc tổ chức các hoạt động.
* Ở Thái Lan: Hiện nay, Thái Lan đang phải đối mặt với những thay đổi lớn về xã hội, kinh tế và chính trị. Những thay đổi đó ảnh hƣởng rất lớn đến cuộc sống của nhân dân nói riêng và toàn bộ đất nƣớc nói chung. Nhân dân đƣợc xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển của đất nƣớc và cần phải đƣợc trang bị những kiến thức và khả năng thiết yếu để thích ứng với những thay đổi đó.Vì vậy, các cơ sở giáo dục cộng đồng thực sự cần thiết để cung cấp kiến thức và thông tin cho mọi ngƣời sống trong cộng đồng. Hiện nay, ở Thái Lan không có các Sở GD&ĐT mà tổ chức quản lý giáo dục theo 5 khu vực hành chính.
Để quản lý các hoạt động GDTX ở mỗi khu vực hành chính có trung tâm nguồn; ở cấp quận có trung tâm GDTX và ở cấp xã có TTHTCĐ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2006, ở Thái Lan có 7 trung tâm nguồn (riêng Thủ đô Băngkok có 3 trung tâm), 858 trung tâm GDTX cấp quận và 7000 TTHTCĐ cấp xã. Tổng biên chế cho các trung tâm này là 10.600 ngƣời, riêng số biên chế cho 7 trung tâm nguồn là 400 ngƣời. Ngân sách nhà nƣớc dành cho hoạt động GDTX ở Thái Lan khoảng 4 tỷ bạt/1 năm.
Ngoài ra nguồn đóng góp từ khu vực tƣ nhân chiếm khoảng 10% ngân sách nhà nƣớc. Mối quan hệ giữa các loại trung tâm: Trung tâm nguồn có nhiệm vụ điều phối các hoạt động về tài chính (phân phối nguồn tài chính từ ngân sách nhà nƣớc và các nguồn tài trợ nƣớc ngoài), nhân sự (điều phối, cán bộ quản lý, nhân viên) cho các trung tâm GDTX và TTHTCĐ. Trung tâm GDTX cấp quận điều phối giáo viên, tập huấn cán bộ, hỗ trợ về học liệu cho các TTHTCĐ. * Ở Ấn Độ: Từ năm 1988, Chính phủ Ấn Độ quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nƣớc nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công cuộc sau XMC và GDTX.
Các trung tâm học tập này là nơi triển khai chính thức các chƣơng trình sau XMC và GDTX, cứ 4 đến 5 làng thì có một trung tâm học tập phục vụ cho khoảng 5000 dân. Sau năm 1990, Chính phủ Ấn Độ chủ trƣơng thành lập các TTGDTX nhằm mục đích: + Tạo cơ hội học tập suốt đời thực sự có hiệu quả cho tất cả bgƣời lớn ở mọi lúc, mọi nơi. + Xây dựng cơ sở hạ tầng cho GDTX nhằm tạo điều kiện cho những ngƣời mới biết chữ củng cố và nâng cao và vận dụng những kiến thức đã học phục vụ cho cuộc sống, tìm kiếm việc làm. Những TTGDTX này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết, thành lập và quản lý.
Các TTGDTX không chỉ phục vụ cho những ngƣời mới biết chữ mà tất cả những ai có nhu cầu (trẻ em, thanh niên thất học, các thành viên trong cộng đồng).000 ngƣời dân thì thành lập một TTGDTX (trƣớc đây 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 dân mới thành lập một trung tâm) và cứ 8 đến 10 trung tâm thì thành lập một trung tâm đầu mối. Những Trung tâm này có chức năng: + Mở các lớp học buổi tối trong tuần để củng cố kỹ năng biết chữ. + Tổ chức đọc sách, cho mƣợn sách + Tổ chức các buổi thảo luận về các vấn đề chung của cộng đồng. + Tổ chức các chƣơng trình huấn luyện ngắn ngày về sức khoẻ, kỹ thuật mới trong sản xuất, chăn nuôi, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho thanh niên.
+ Tổ chức các hoạt động giải trí ( văn hoá văn nghệ, thể thao, nghệ thuật dân gian.) * Ở Đan Mạch: Trong cuộc đời làm việc của ngƣời dân Đan Mạch họ thƣờng thay đổi công việc ít nhất là 4 lần, các trƣờng đào tạo chính quy không thể đáp ứng hết các nhu cầu về đào tạo để đáp ứng sự thay đổi công việc cho mỗi ngƣời dân, do vậy những trung tâm học tập đáp ứng nhu cầu học tập của ngƣời dân Đan Mạch đã ra đời từ rất sớm vào khoảng thế kỷ XVIII với tên gọi “trƣờng trung học nhân dân” ngày nay đang tiếp tục phát triển, đây là mô hình mà các nƣớc châu Âu đang học hỏi và phát triển. Những nghiên cứu TTHTCĐ ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “. là làm sao cho đất nƣớc ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đƣợc học hành”. Ngƣời cũng từng khẳng định “ một dân tộc dốt là dân tộc yếu”, từ đó kêu gọi tri thức hoá công nông để đƣa dân tộc ta thành một dân tộc thông thái.
Cũng ngay sau đó ngày 04/10/1945 Bác Hồ đã chỉ rõ “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nƣớc giàu, mọi ngƣời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nƣớc nhà”. Tƣ tƣởng ấy của Hồ Chí Minh đã đƣợc Đảng ta kế thừa và phát triển. Văn kiện Đại hội đảng lần thứ IX đã đề ra chủ trƣơng mới về phát triển GD&ĐT ngang tầm với thời đại “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và KCQ, thực hiện giáo dục cho mọi ngƣời, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả nƣớc trở thành một XHHT và thực hiện chủ trƣơng xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo”. [10] Hội nghị TW 7, khoá IX (tháng 3/2003) đã quyết định tiến hành cuộc vận động lớn toàn dân xây dựng phong trào “Cả nƣớc trở thành một xã hội học tập”, “Học tập suốt đời".
[11] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X trong đó đã xác định “Chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi ngƣời và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời, tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho ngƣời học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Vì vậy học tập giờ đây không phải quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân. Học tập không phải là việc nhất thời mà là việc suốt đời đối với mỗi ngƣời dân Việt Nam. Học tập của mỗi ngƣời đƣợc tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi, trong nhà trƣờng chính quy, ngoài nhà trƣờng (không chính quy).