Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về quản lý tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng đối với khách hàng DNNVV a.
Khái niệm DNNVV Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Khái niệm DNNVV mang tính chất tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng nước. Ở Việt Nam, khái niệm DNNVV được quy định theo nghị định 56/2009/NĐ-CP: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Khái niệm tín dụng đối với khách hàng DNNVV Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay.
Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán. download by : skknchat@gmail.com 6 Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ đó ta có thể định nghĩa về hoạt động cho vay tín dụng đối với khách hàng DNNVV như sau:“Cho vay DNNVV là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho DNNVV trong một thời gian nhất định, khi kết thúc thời hạn thì thu hồi lại vốn”.
Tín dụng nói chung và tín dụng đối với khách hàng DNNVV được thực hiện trên cơ sở 4 nguyên tắc sau: - Cho vay có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định. Đây là nguyên tắc đảm bảo thực chất của tín dụng. Tính chất tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được thực hiện đầy đủ. - Cho vay có giá trị tương đương làm đảm bảo: Giá trị đảm bảo là cơ sở của khả năng thu hồi nợ, là cơ sở hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhât trong nhiều trường hợp khác nhau.
- Cho vay phải có mục đích và kế hoạch theo hợp đồng đã ký. Nguyên tắc này đòi hỏi người vay vốn phải thực hiện đúng kế hoạch, mục đích trong hợp đồng vay vốn và sử dụng có hiệu quả khoản tiền vay đó. - Cho vay phải có nguồn trả nợ đảm bảo. Người vay vốn phải giải trình được nguồn trả nợ khoản vay với ngân hàng.
Có như vậy thì chất lượng khoản vay mới được đảm bảo. Như vậy, bên cạnh tài sản đảm bảo, mục đích vay rõ ràng thì nguồn trả nợ cũng là một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong tín dụng ngân hàng. download by : skknchat@gmail. Quan điểm về quản lý tín dụng đối với khách hàng DNNVV Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung.
Theo quan điểm của Henry Fayol thì: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Và cũng trong quan niệm về quản lý của mình, ông đưa ra 5 chức năng của quy trình quản lý bao gồm: xây dựng và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; điều khiển; phối hợp; kiểm tra. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên. Quản lý hoạt động tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu chung là phát triển bền vững, an toàn hiệu quả.
Tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM. Như vậy, quản lý hoạt động tín dụng ở NHTM là quá trình Ban lãnh đạo xây dựng các chính sách, chiến lược quản lý tín dụng của ngân hàng, tổ chức thực hiện kế hoạch, chiến lược, kiểm tra kiểm soát, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Do đó “Quản lý hoạt động tín dụng đối với khách hàng DNNVV tại các NHTM là quá trình Ban giám đốc xây dựng kế hoạch tín dụng và chiến lược quản lý tín dụng đối với khách hàng DNNVV dựa trên kế hoạch của ngân hàng cấp trên giao. Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược tín dụng, thực hiện quy trình tín dụng theo đúng quy định, quy chế của ngân hàng cấp trên để đạt được kế hoạch tín dụng được giao”.
Mục tiêu quản lý tín dụng đối với khách hàng DNNVV Quản lý hoạt động tín dụng của bất kỳ NHTM nào trước tiên cũng phải hướng tới sự tồn tại và phát triển bền vững, an toàn, nâng cao năng lực cạnh tranh của chính NHTM đó. Bởi vậy, ba mục tiêu cơ bản bao trùm trong quản lý hoạt động tín dụng nói chung và đối với khách hàng DNNVV nói riêng mà các ngân hàng phải đạt được là: download by : skknchat@gmail.com 8 - Một là phát triển hoạt động tín dụng về cả chiều sâu và chiều rộng Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống NHTM ở nước ta, nó mang lại 60-70% thu nhập cho mỗi ngân hàng. Vì vậy, phát triển hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn của mỗi ngân hàng. Bên cạnh đó nhóm khách hàng DNNVV là một trong những đối tượng khách hàng chiếm tỷ trọng lớn và tiềm năng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Do đó phát triển hoạt động tín dụng cần thực hiện ở mọi khía cạnh: phát triển sản phẩm tín dụng, mở rộng địa bàn, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, thu nợ. - Hai là an toàn đầu tư tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động tạo ra giá trị cho ngân hàng, song nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là rủi ro cơ bản bao trùm dẫn đến sự đổ bể của nhiều NHTM. Vì vậy phát triển tín dụng phải gắn liền với an toàn trong hoạt động tín dụng, kiểm soát tín dụng, hạn chế tối đa rủi ro.
- Ba là lợi nhuận tăng trưởng bền vững Mục tiêu cao nhất của các NH trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận. Đây là mục tiêu hàng đầu mà quản lý hoạt động tín dụng của NHTM phải hướng tới. Trong cơ chế thị trường, muốn tồn tại thì kinh doanh phải trang trải đủ chi phí và tích lũy lơi nhuận để mở rộng kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Ba mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thực hiện tốt hai mục tiêu đầu là sơ sở để hoàn thành mục tiêu thứ 3. Mục tiêu thứ 3 định hướng cho hai mục tiêu đầu. Vai trò quản lý tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại Quản lý tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của các NHTM. Quản lý tín dụng nói chung và tín dụng đối với khách hàng DNNVV nói riêng có các vai trò cơ bản như sau: download by : skknchat@gmail.com 9 Một là, định hướng hoạt động tương lai của các NHTM, đặc biệt là hoạt động tín dụng.
Ban lãnh đạo sẽ thông qua chức năng lập kế hoạch để xác định mục tiêu hoạt động của ngân hàng cũng như cách thức hoạt động của mỗi chi nhánh. Vai trò này của quản lý được thực hiện thông qua chức năng xây dựng và lập kế hoạch (về tăng trưởng dư nợ cho vay đối với khách hàng DNNVV, về kiểm soát tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, mở rộng quy mô thị phần khách hàng,…). Ngân hàng sẽ xây dựng những chiến lược phát triển và hướng mọi hoạt động trong ngân hàng đến việc thực hiện chiến lược đó. Hai là, lập kế hoạch, tổ chức, phân công, phối hợp, điều khiển, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện của các CBTD, sự phối hợp của các CBTD với nhau và giữa các bộ phận trong tổ chức để thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt mục tiêu chung.
Việc này giúp cho mỗi cá nhân tự giác nghiêm chỉnh chấp hành những nhiệm vụ hoạt động của mình theo đúng những quy định của ngân hàng, có những cách thức giải quyết công việc một cách linh hoạt, nhanh chóng kịp thời, kích thích và khơi dậy kỹ năng sáng tạo của mỗi cá nhân, giúp cho hoạt động của cá nhân và ngân hàng ngày càng tốt hơn. Ba là, kết hợp hài hòa lợi ích của từng cá nhân và của tập thể trên cơ sở phát huy nỗ lực cá nhân, tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mỗi cá nhân, tôn trọng mục tiêu cá nhân gắn với mục tiêu của tổ chức. Trong quá trình quản lý, ban lãnh đạo ngân hàng sẽ đề ra các phương án để tính toán hợp lý nhằm cân đối hài hòa lợi ích của các bên. Đảm bảo cho ngân hàng đạt được mục tiêu, còn các cá nhân cũng đạt được những lợi ích riêng của mình.
Việc quản lý cũng sẽ giúp hạn chế những xung đột về lợi ích trong tổ chức, hướng mọi người đến thực hiện lợi ích chung. Bốn là, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức. Việc quản lý sẽ đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực vật chất trong tổ chức được tiết kiệm và hiệu quả. download by : skknchat@gmail.