PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tín dụng đầu tư của Nhà nước là một nguồn tài chính quan trọng của toàn bộ nền kinh tế, đất nước ta đang trong thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện công cuộc CNH-HĐH. Việc đầu tư xây dựng mới, mở rộng đầu tư chiều sâu nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm là yêu cầu đòi hỏi khách quan của các tổ chức, doanh nghiệp và của nền kinh tế. Nghiệp vụ quản lý TDĐT là một nghiệp vụ có tính chất bao trùm của hệ thống NHPT (Nghiệp vụ này bao gồm: Lập kế hoạch TDĐT, tổ chức thực hiện kế hoạch TDĐT và kiểm soát TDĐT, được thực hiện bởi Bộ máy quản lý TDĐT), cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế thì tỷ trọng vốn TDĐT ngày càng được tăng lên và nguồn vốn cấp phát giảm đi.
Đặc biệt, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của thời đại và trở thành một trong những động lực quan trọng cho phát triển KTXH. Quan hệ kinh tế của nước ta với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất, từ đó đã mở ra rất nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều thách thức trong hoạt động quản lý tín dụng ngân hàng. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức tài trợ phát triển, phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành lập NHPT để thực hiện tín dụng chính sách. Thực hiện nhiệm vụ được giao, NHPT đã và đang cho vay các dự án ĐTPT của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của nhà nước và hỗ trợ phát triển vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn cần khuyến khích đầu tư, góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, đóng góp tích cực cho phát triển KTXH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, ngày 31/3/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về TDĐT, thay thế các nghị định liên quan đến TDĐT trước đó. Trong thời gian tới, NHPT tiếp tục đổi mới căn bản về tư duy quản trị hoạt động trên cơ sở kết quả và bài học kinh nghiệm giai đoạn 2006-2016. Đồng thời, kiên định mục tiêu tái cơ cấu hoạt động theo Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện các nội dung về đảm bảo chất lượng và tăng trưởng tín dụng, an toàn tài chính, hoàn thiện mô hình quản trị ngân hàng và các tổ chức bộ máy, cán bộ phù hợp. Cùng với sự phát triển của đất nước, quản lý TDĐT đã trở thành một trong những nhiệm vụ rất quan trọng.
Hiện nay, các dự án, chương trình sử dụng vốn 2 TDĐT đã và đang phát huy hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển KTXH của đất nước. Đặc biệt, đối với tỉnh Bắc Giang là tỉnh miền núi, thuộc địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn, có nhiều huyện miền núi như huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Hiệp Hòa v. cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, chỉ số cạnh tranh thấp, nhu cầu đầu tư cho tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo rất cấp thiết. Các dự án vay vốn TDĐT do Chi nhánh Bắc Giang quản lý đã góp phần thúc đẩy phát triển KTXH của tỉnh, hoàn thiện nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy, chuyển dịch các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp phát triển v., Tuy nhiên, trước yêu cầu ổn định phát triển bền vững nền kinh tế của đất nước và của địa phương, chính sách TDĐT hiện đang có nhiều thay đổi, quản lý TDĐT do hệ thống NHPT thực hiện còn nhiều mặt chưa đáp ứng được.
Quá trình triển khai thực hiện trong tình hình mới, quản lý TDĐT tại NHPT, Chi nhánh Bắc Giang đã xuất hiện các vướng mắc, bất cập, RRTD, nợ quá hạn và nợ xấu ngày càng gia tăng. Trước những yêu cầu đổi mới quản lý TDĐT, phù hợp với lộ trình cơ cấu lại hệ thống NHPT và đảm bảo các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế tìm ra nguyên ngân, những mặt hạn chế, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý TDĐT tại Chi nhánh NHPT Bắc Giang, phát huy vai trò ngân hàng chính sách đối với nền kinh tế nói chung và của địa phương là rất cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Giang” cho luận văn của mình. Tổng quan nghiên cứu Đến nay, các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực TDĐT, chủ yếu đã tiếp cận vấn đề về nội dung, hiệu quả TDĐT ở các mức độ khác nhau và đánh giá hiệu quả hoạt động TDĐT xét trên các phương diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, với NHPT và các doanh nghiệp, từ đó nhằm hướng tới xây dựng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động TDĐT, cụ thể: - Trần Công Hoà (2007), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
Vấn đề nghiên cứu đặt ra trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, phát triển theo hướng CNH-HĐH bên cạnh những mặt ưu việt mà nền kinh tế đem lại còn có những tồn tại cần phải khắc phục đó là sự phát triển chênh lệch giữa cơ cấu các ngành kinh tế, vùng kinh tế, v. Do vậy, để khắc phục những tồn tại đó nhà nước cần có những công cụ tác động vào nền kinh tế để điều tiết hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường, một trong những công cụ quan trọng là tín dụng ĐTPT. Thực tế Chính phủ đã sử dụng tín dụng ĐTPT là một công cụ 3 hữu hiệu trong việc điều tiết, phân bổ nguồn lực; tín dụng ĐTPT đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho hoạt động đầu tư trong nhiều lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, với khả năng có hạn về tài chính của các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, đòi hỏi phải huy động một lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, lãi suất huy động vốn phù hợp là những điều kiện rất cần thiết để cho các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư phát triển SXKD.
Do vậy, tín dụng ĐTPT ra đời thực sự trở thành một nhân tố cần thiết cho các doanh nghiệp trong quá trình phát triển. Hoạt động tín dụng ĐTPT đã chứng minh được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thông qua việc tập trung đẩy mạnh đầu tư cho các dự án phát triển, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Từ đó tác giả đã nghiên cứu tín dụng ĐTPT, thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động và tập trung xây dựng hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TDĐT. - Đào Bá Đức (2008), Đổi mới hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Thanh Hoá, Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Công trình nghiên cứu đề cập đến nâng cao hiệu quả, chất lượng tín dụng được thực hiện tại Chi nhánh NHPT Thanh Hoá. Trong giới hạn khuôn khổ sử dụng nguồn vốn trong nước, hoạt động tín dụng ĐTPT với các hình thức: Cho vay đầu tư, bảo lãnh TDĐT và hỗ trợ sau đầu tư. Tác giả đã khắc hoạ bức tranh về hoạt động TDĐT và gắn với mục đích đổi mới hoạt động TDĐT tại Chi nhánh Thanh Hóa, đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp tổng thể đối với NHPT, các cấp chính quyền, các ngành có liên quan về chính sách, quy định và thực hiện các giải pháp bổ trợ cho việc đổi mới hoạt động TDĐT tại Chi nhánh NHPT Thanh Hoá. - Nguyễn Nam Chiến Thắng (2008), Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh NHPT Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân.
Tác giả đi sâu vào phân tích nội dung nâng cao chất lượng thẩm định dự án, công tác thẩm định của cán bộ thẩm định, những vấn đề cần xem xét khi thẩm định dự án, cách thức tiến hành, phương pháp phân tích đánh giá để rút ra kết luận lựa chọn được dự án có hiệu quả. Tác giả đã phân tích đánh giá thẩm định dự án tại Chi cục ĐTPT Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng các chất lượng thẩm định dự án tại Chi cục ĐTPT Bắc Ninh (tổ chức tiền thân của Chi nhánh NHPT Bắc Ninh). Đây là một bước quy trình tín dụng trong hoạt động cho vay vốn, chưa đề cấp đến khái niệm quản lý TDĐT. - Nguyễn Hữu Nam (2011), Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Khu vực Bắc Ninh-Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ, Học 4 viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả đã tập trung nghiên cứu hoạt động TDĐT giới hạn trong khuôn khổ thực hiện tại Chi nhánh Khu vực Bắc Ninh-Bắc Giang. Bao gồm toàn bộ các hoạt động tín dụng sử dụng nguồn vốn trong nước với các hình thức: Cho vay đầu tư, bảo lãnh TDĐT và hỗ trợ sau đầu tư. Tác giả đánh giá TDĐT nhằm làm rõ tính chất, sự tồn tại của loại hình TDĐT là một tất yếu khách quan, chưa đưa ra được yêu cầu, quy trình quản lý TDĐT. - Hà Thị Miền (2012), Hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Kon Tum, Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng, tác giả tập trung nghiên cứu về hoạt động TDĐT và đánh giá bao gồm 2 mặt hoạt động: Huy động vốn và sử dụng nguồn vốn.
Đưa ra được các nguyên tắc huy động vốn và cân đối thời hạn huy động cho nguồn vốn TDĐT. Đồng thời, nhận định quản lý sử dụng nguồn vốn phải đúng mục tiêu, tiến độ đầu tư và phải bảo toàn, phát triển nguồn vốn TDĐT. Các hình thức sử dụng nguồn vốn TDĐT, bao gồm: Cho vay đầu tư, bảo lãnh TDĐT và hỗ trợ sau đầu tư. Trong nghiên cứu tác giả có đề cập đến quy trình cấp TDĐT tại NHPT, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng.