Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tín dụng cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tín dụng cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tín dụng cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. 6 Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG CHO HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH VÀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm tín dụng chính sách Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con ngƣời, cộng đồng cũng nhƣ mỗi quốc gia.
Theo tuyên bố của Tổ chức Liên hợp quốc tháng 6/2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không đƣợc đi học, không đƣợc khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận đƣợc nƣớc sạch và công trình vệ sinh”. Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này là lực cản lớn đối với khả năng xóa đói, giảm nghèo của chính bản thân ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác cũng nhƣ mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội của một quốc gia.
Những hạn chế về khả năng đáp ứng các quy định về vay vốn của TCTD thƣơng mại khiến cho các đối tƣợng chính sách gần nhƣ không thể tìm ra nguồn vốn tài chính đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Gắn kết đặc điểm này cùng với vai trò quan trọng của Nhà nƣớc đối với công tác giảm nghèo dẫn tới sự cần thiết của Nhà nƣớc trong việc cung cấp, hỗ trợ nguồn tín dụng chính sách cho nhóm đối tƣợng này. Theo Nghị định số 78/2002/NĐ - CP về tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác ban hành ngày 04/10/2002 thì tín dụng chính sách đƣợc hiểu nhƣ sau: Tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác, là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nƣớc huy động để cho ngƣời nghèo và 7 các đối tƣợng chính sách khác vay ƣu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội [15]. Nhƣ vậy, việc cho vay đối với ngƣời nghèo theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình cho vay của các NHTM, trong đó nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau: Thứ nhất: Đối tƣợng vay vốn là ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác (Chính phủ quyết định đối tƣợng vay vốn theo từng chƣơng trình tín dụng, trong đó bao gồm các hộ dân sống ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
thiếu vốn sản xuất, sinh hoạt…) gồm: - Hộ nghèo. - Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề. - Các đối tƣợng cần vay vốn để giải quyết việc làm. - Các đối tƣợng chính sách đi lao động có thời hạn ở nƣớc ngoài.
- Hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, thuộc khu vực II,III miền núi và thuộc Chƣơng trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa… - Hộ nghèo thiếu nƣớc sinh hoạt, thiếu công trình vệ sinh hợp môi trƣờng. - Các đối tƣợng khác theo quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ. Thứ hai: Mục tiêu của tín dụng cho các đối tƣợng chính sách là nhằm giúp cho họ có vốn để sản xuất, kinh doanh tạo việc làm nâng cao thu nhập. Tín dụng chính sách cho hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
Thứ ba: Cho vay đối với hộ nghèo và đối tƣợng chính sách hoặc các đối tƣợng khác ở vùng khó khăn, có sức lao động nhƣng thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Hộ nghèo và đối tƣợng chính sách khác vay vốn phải là những hộ đƣợc xác định theo chuẩn nghèo đa chiều do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phƣơng công bố trong từng thời kỳ và các điều kiện chính sách khác theo quy định của Thủ tƣớng chính phủ 8 từng thời kỳ. Thực hiện cho vay sử dụng vốn đúng mục đích, bảo đảm hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn, thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng vay. Thứ tư: Tín dụng chính sách đƣợc ƣu đãi các điều kiện nhƣ: không cần bảo đảm tiền vay, đơn giản về thủ tục và các quy trình giải ngân, ƣu đãi về lãi suất vay vốn và thời hạn vay vốn.
Điều kiện cấp tín dụng cho các đối tƣợng chính sách linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh của họ. Mức vay, các thủ tục vay vốn, các yêu cầu về điều kiện tài chính và tài sản bảo đảm đƣợc điều chỉnh linh hoạt trong từng thời điểm, từng mục đích vay vốn, gắn với thực tiễn địa phƣơng và hoàn cảnh của ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác để bảo đảm họ dễ dàng có thể tiếp cận đƣợc vốn vay nhanh chóng nhất. Thứ năm: Tín dụng chính sách không những hỗ trợ điều kiện về vốn mà còn hỗ trợ ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách về năng lực sản xuất kinh doanh nhƣ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngƣ, đào tạo nghề, chỉ dẫn các thị trƣờng đầu vào cho sản xuất lẫn đầu ra cho sản xuất, thông qua tập huấn hƣớng dẫn của các Tổ chức, ban ngành liên quan. Thứ sáu: Việc cho vay đến ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác đƣợc thực hiện theo phƣơng thức ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng ủy thác hoặc Ngân hàng CSXH trực tiếp cho vay đến Ngƣời vay.
Việc cho vay đối với ngƣời vay căn cứ vào kết quả bình xét của Tổ tiết kiệm và vay vốn. Tổ tiết kiệm và vay vốn là tổ chức do các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cộng đồng dân cƣ tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã, đƣợc ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận bằng văn bản. Đặc điểm tín dụng chính sách Thứ nhất, tổ chức tín dụng đƣợc Nhà nƣớc chỉ định hoặc do Nhà nƣớc thành lập để thực hiện tín dụng chính sách trong lĩnh vực ASXH. Thứ hai, tín dụng chính sách là kênh tín dụng của Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Khác với tín dụng thƣơng mại, mục tiêu của tín dụng chính sách là cho vay để phục vụ SXKD, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chƣơng trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, ổn định kinh tế – chính trị và bảo đảm ASXH. 9 Thứ ba, đối tƣợng vay vốn tín dụng chính sách là ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Chính phủ quyết định đối tƣợng vay vốn theo từng chƣơng trình tín dụng. Thứ tư, nguồn vốn của tín dụng chính sách là nguồn vốn của Nhà nƣớc, tức là nguồn vốn từ Ngân sách nhà nƣớc và có nguồn gốc từ Ngân sách.
Thứ năm, Chính phủ hoặc ngƣời đƣợc Chính phủ ủy quyền quyết định về lãi suất cho vay, điều kiện vay, thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách. Thứ sáu, phƣơng thức cho vay đa dạng: Tổ chức quản lý tín dụng chính sách có thể cho vay trực tiếp đến khách hàng, có thể ủy thác một phần hoặc toàn phần cho các tổ chức tín dụng khác và có thể ủy thác một số công đoạn trong quy trình tín dụng cho các tổ chức CTXH. Đối tƣợng cho vay: Là hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách khác theo các quy định hiện hành. Giá trị các món vay: Các món vay có giá trị nhỏ do đều phục vụ nhu cầu cải thiện nhu cầu đời sống của ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác.
Lãi suất cho vay: Thấp hơn lãi suất của các ngân hàng thƣơng mại, do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH. Chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay đƣợc Bộ Tài chính cấp bù, những tổn thất trong cho vay, sau khi bù đắp bằng quĩ dự phòng, chi phí hoạt động của Ngân hàng Chính sách sẽ đƣợc Bộ Tài chính cấp. Nhƣ vậy đây là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng (huy động và cho vay) song dựa vào nguồn chi ngân sách hàng năm, tức là Nhà nƣớc thực hiện bao cấp một phần cho hoạt động của Ngân hàng Chính sách. Phƣơng thức cấp tín dụng ƣu đãi: Việc cho vay của NHCSXH đƣợc thực hiện theo phƣơng thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay đến Ngƣời vay.
Vai trò của tín dụng cho hộ nghèo Thứ nhất: Tín dụng chính sách là đòn bẩy, là bà đỡ đối với hộ nghèo, giúp họ mạnh dạn vay vốn để đầu tƣ sản xuất kinh doanh, với lý do: 10 + Thủ tục vay vốn đơn giản, có tổ chức chính trị xã hội đứng ra động viên vay vốn, hƣớng dẫn thủ tục…, tạo điều kiện cho ngƣời vay dễ tiếp cận nguồn vốn, không có cản trở khi vay về trình độ dân trí của ngƣời vay. + Lãi suất vay vốn ƣu đãi, thời gian vay vốn dài, không phải thế chấp tài sản, tạo điều kiện cho ngƣời vay có khả năng trả nợ cao, vì chi phí vốn thấp, thời gian vay dài để họ có thể tích góp dần để trả nợ, không phải thế chấp tài sản vì phần lớn ngƣời vay đều có thu nhập thấp nên không có tài sản có giá trị cao để thế chấp. Thứ hai: Tín dụng chính sách đối với ngƣời nghèo có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo, mang lại hiệu quả hơn so với phƣơng thức cấp phát cho không, lý do: - Do bản chất của tín dụng là cho vay có hoàn trả, nên nguồn vốn đƣợc ngƣời vay tính toán có hiệu quả, sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống và trả đƣợc nợ.