Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN MÃ HÓA 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu quốc tế về tiền ảo, tiền mã hóa nói chung và Bitcoin nói riêng từ năm 2012 đến nay tương đối phong phú và chủ yếu cố gắng làm rõ bản chất, hoạt động của Bitcoin và một số loại tiền mã hóa khác có hệ thống sinh thái đầy đủ. Về các định nghĩa liên quan đến tiền ảo, tiền mã hóa, tiền thuật toán, tiền số, Bitcoin Cơ quan mạng lưới chống tội phạm tài chính Hoa Kỳ - FinCEN (2013) đưa ra các dấu hiệu phân biệt giữa ―tiền thật‖ (real currency) với ―tiền ảo‖ (vitural currency). Theo đó, tiền ảo được coi là một dạng trung gian thanh toán, vận hành trong một số môi trường nhất định và không mang những đặc tính của tiền tệ. Bên cạnh đó, cơ quan này cũng phủ nhận tính pháp lý chính thức của đồng tiền này.
Liên minh Châu Âu (2016) định nghĩa ―Tiền ảo là một đại diện số có giá trị, không được thừa nhận bởi Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoặc cơ quan nhà nước cũng như không được ghi nhận như một đồng tiền pháp định, tuy nhiên nó lại được các cá nhân và pháp nhân chấp nhận làm phương tiện thanh toán và có thể chuyển nhượng, lưu trữ và giao dịch điện tử”. Trong văn bản sửa đổi được thông qua ngày 9/3/2017 về các vấn đề kinh tế, tiền tệ và quyền tự do dân sự, tư pháp và nội vụ, Ủy ban các Quốc hội Châu Âu cũng ghi nhận tiền ảo tương tự như định nghĩa của Liên minh Châu Âu nhưng bổ sung khía cạnh đồng tiền ảo không được phép ẩn danh. Các tổ chức quốc tế như IMF (2017), ECB (2015) và FATF (2014) đều đưa ra định nghĩa riêng về tiền ảo (virtual currency). Các định nghĩa này có điểm chung là đều coi tiền ảo là sự biểu hiện số của giá trị (digital representation of value), không được phát hành bởi NHTW.
Đồng thời, các tổ chức trên đều thống nhất tiền ảo là khái niệm con của khái niệm tiền kỹ thuật số (digital currency). Tiền ảo hoạt động dựa trên mô hình phân tán và công nghệ mật mã được gọi là tiền mã hóa hay tiền mật mã. Bitcoin chỉ là một loại cụ thể trong nhóm tiền mật mã nhưng có mức độ phổ biến nhất hiện nay. Rose, C (2015) cho rằng Bitcoin không phải là tiền kỹ thuật số đầu tiên được tạo ra, nhưng dường như là đồng tiền kỹ thuật số thành công nhất và được chấp 12 nhận bởi số lượng lớn người dùng trong hoạt động bán lẻ.
Bitcoin là một loại tiền mã hóa và hoạt động như một mạng lưới ngang hàng. Sự bảo mật của nó được bảo đảm bởi những thuật toán mật mã thay vì có sự bảo đảm của Chính phủ. Nó có tiềm năng trở thành phương tiện thanh toán cho hoạt động thương mại điện tử và thậm chí có thể trở thành thách thức đối với những nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền truyền thống. Bitcoin không phải là để phục vụ một hay một vài quốc gia, mà là để phục vụ cho cả thế giới.
Sự phân tán này đạt được thông qua cấu trúc ngang hàng (peer to peer). Tiền thuật toán thông qua cơ chế phân tán để xác nhận giao dịch. Tuy nhiên, tác giả mở rộng khái niệm tiền mã hóa/thuật toán là một hệ thống thỏa mãn các điều kiện như (i) không yêu cầu cơ quan xử lý tập trung và đạt được sự đồng thuận về tình trạng hệ thống thông qua cơ chế phân tán; (ii) theo dõi toàn bộ các đơn vị tiền tệ trong mạng lưới và việc sở hữu các đơn vị này; (iii) tự xác định khi nào đồng tiền mới được tạo ra và xác định người sở hữu đơn vị mới này; (iv) việc sở hữu tiền thuật toán chỉ có thể được chứng minh thông qua thuật toán mã hóa; (v) cho phép các giao dịch được thực hiện gắn với sự chuyển giao quyền sở hữu các đơn vị tiền tệ. Có vài sự khác biệt giữa tiền ảo, tiền kỹ thuật số và tiền mã hóa/thuật toán, mặc dù những thuật ngữ này thường được sử dụng để thay thế cho nhau.Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau trong quản lý, giám sát tiền ảo và Bitcoin nhưng hầu hết các quốc gia đều không đưa ra định nghĩa của mình.
Christine Lagarde3 (2017) nhận định các loại tiền ảo như Bitcoin vẫn ít hoặc có thể nói rằng không là thách thức đối với các loại tiền hiện tại. Các NHTW có thể không phải là khôn ngoan nếu loại bỏ tiền ảo. Về các đặc tính kinh tế, kỹ thuật của tiền mã hóa, trong đó có Bitcoin Jerry Brito và Andrea Castillo (2013) tập trung đánh giá các tính chất của Bitcoin cũng như ưu và nhược điểm đối với nền kinh tế. Hệ thống luật pháp của Mỹ được đưa ra xem xét và phân tích, theo đó các đặc điểm công nghệ của Bitcoin khiến cho đồng tiền này vượt ra khỏi các khuôn khổ pháp lý hiện thời.
Các tác giả đã đưa ra 3 Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trong bài viết Ngân hàng trung ương và Fintech - Một thế giới mới dũng cảm. 13 nhiều khuyến nghị cho những người lập chính sách, trong đó quan trọng nhất là không nên cấm Bitcoin và cần chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở pháp lý hiện thời nhằm đảm bảo phát huy ưu điểm và hạn chế được nhược điểm của hệ thống tiền tệ này. Ittay Eyal và Emin Gun Sirer (2013) phân tích tính bền vững của hệ thống Bitcoin về mặt động lực của người dùng. Theo đó, tồn tại khả năng người dùng tìm cách câu kết với nhau để tư lợi và lũng đoạn hệ thống, phá vỡ tính ngang hàng và phi tập trung.
Các tác giả đề xuất một số phương án sửa đổi để ngăn chặn hành vi này. Nghiên cứu của Ladislav Kristoufek (2013) tìm kiếm mối quan hệ giữa sự quan tâm của cộng đồng với giá trị của Bitcoin thông qua số lượt tìm kiếm Google và tra cứu Wikipedia. Kết quả cho thấy, giữa giá Bitcoin và lượt tìm kiếm Google, tra cứu Wikipedia không những có sự tương quan mạnh mà còn có tính nhân quả. Quan trọng hơn, đây là quan hệ 2 chiều: giá Bitcoin ảnh hưởng đến lượt tìm kiếm và ngược lại, lượt tìm kiếm cũng tác động trở lại đến giá.
Đây là bằng chứng cho tính đầu cơ, bong bóng và tâm lý đám đông trong biến động giá của Bitcoin. - Ron Dorit; Adi Shamir (2012) đã tiến hành phân tích định lượng toàn bộ lịch sử giao dịch của mạng lưới Bitcoin nhằm đánh giá hành vi của người sử dụng bao gồm cách nhận và chuyển Bitcoin, số dư trong mỗi tài khoản và cách người dùng chuyển tiền qua lại giữa các tài khoản để bảo vệ tính riêng tư. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn tiến hành phân lập các giao dịch lớn trong hệ thống và tìm ra mối liên hệ giữa các giao dịch này với một giao dịch đáng chú ý vào tháng 11 năm 2010, mặc dù người dùng đã cố gắng thực hiện các biện pháp giao dịch qua lại để xóa dấu vết. Kết quả cho thấy hầu hết lượng Bitcoin đào được đều đang trong trạng thái tích trữ mà chưa hề tham gia giao dịch.
Lượng lớn các giao dịch được thực hiện với giá trị vi mô. Những giám sát trên hệ thống giao dịch vẫn phát hiện ra các mối liên hệ giữa các giao dịch với khối lượng lớn mặc dù đã được chuyển qua lại giữa các tài khoản vẫn có thể lần ra được mối liên hệ và nguồn gốc của chúng. - Về tác động của tiền mã hóa, trong đó Bitcoin, đến ngành tài chính và chính sách tiền tệ Pedro Franco (2015) cho rằng nhiều người ủng hộ Bitcoin vì giúp giảm rào cản gia nhập ngành tài chính. Các thành viên mới tham gia khu vực tài chính 14 thường đối mặt với vấn đề về đáp ứng yêu cầu lượng vốn lớn và chi phí tuân thủ các quy định hiện thời.
Bitcoin xuất hiện cho phép các doanh nghiệp mới (start up) dễ dàng hơn trong việc tham gia khu vực tài chính, ví dụ như các công ty về xử lý thanh toán, chuyển tiền. Đối với chính sách tiền tệ, tác giả cho rằng khả năng Bitcoin sẽ tác động đến vòng quay của tiền. Điều này gây khó cho NHTW trong việc kiểm soát, điều hành cung tiền. (2016) cho rằng tiền ảo thịnh hành chủ yếu do hai yếu tố.
Thứ nhất, như một cuộc biểu tình chống lại những quyết định chính sách tiền tệ theo định hướng của cơ quan có thẩm quyền và thứ hai, có thể là lựa chọn thay thế cho những thâm hụt trong một số hệ thống tiền tệ phát sinh từ sự bất ổn chính trị hoặc các nguyên nhân khác. Giả định rằng tiền ảo thực sự hay một phần thay thế tiền tệ quốc gia như là phương tiện thanh toán, tác giả cố gắng tích hợp nguồn cung và cầu tiền ảo vào hệ thống thị trường tiền tệ của Keynes và chỉ ra các vấn đề có thể ảnh hưởng đến xây dựng chính sách tiền tệ. Một số giả định đã được tạo ra mang tính thử nghiệm để xây dựng một hình mẫu thị trường tiền tệ quốc gia có sự kết nối của đồng tiền do quốc gia phát hành và tiền ảo được phát hành toàn cầu. - Về thách thức đối với cơ quan giám sát tài chính trong việc xây dựng các quy định quản lý, giám sát tiền mã hóa, Bitcoin Tu và Meredith (2015) cho rằng Bitcoin đặt ra 3 thách thức đối với cơ quan điều tiết và giám sát tài chính.
Thứ nhất, cốt lõi của quy định tài chính liên quan đến khả năng áp đặt các yêu cầu tuân thủ đối với một tổ chức tập trung và đến lượt mình, các tổ chức/thực thể tập trung thực hiện các yêu cầu đó. Do là mạng lưới phi tập trung, không có thực thể trung tâm, Bitcoin đặt ra các vấn đề pháp lý tiềm ẩn vì các cơ quan nhà nước thiếu khả năng áp đặt các yêu cầu pháp lý để có thể phát hiện sớm và ngăn chặn hoạt động bất hợp pháp. Thứ hai, Bitcoin cung cấp cho người dùng mức độ ẩn danh lớn hơn nhiều hệ thống thanh toán truyền thống vì thông tin cá nhân của người dùng không được cung cấp liên quan đến giao dịch (được mã hóa thành các địa chỉ ví), mặc dù các giao dịch được công khai. Tuy nhiên, tính ẩn danh làm gia tăng mức độ phức tạp cho các nhà quản lý đang tìm cách giải quyết mối lo ngại rằng dịch vụ có thể được sử dụng để tạo điều kiện cho hoạt động bất hợp pháp, đặc biệt trong hoạt động về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.