Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của luận văn. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 5 Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc.
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế Thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng chúng ta cũng nhận thấy những điểm tương đồng sau: Thuế TNCN là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định.
Thuế mang tính bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác. Do vậy ta có khái niệm về thuế Thu nhập cá nhân như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập”. Thuế TNCN là một sắc thuế xuất hiện tương đối sớm.
Lần đầu tiên xuất hiện ở nước Anh vào năm 1799. Thuế thu nhập đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó thuế thu nhập cá nhân nhanh chóng được lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914), Trung Quốc (năm 1936)… Ở cá nước phát triển, thuế TNCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail. Tuy nhiên, mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và và mục tiêu đặt ra trong chính sách phân phối thu nhập của từng nước trong từng thời kỳ nhất định.
Nhìn chung, hầu hết các nước đều áp dụng thống nhất hai loại thuế: Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập công ty. Đặc điểm của thuế Thu nhập cá nhân Một là, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của NNT, người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác. Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN.
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội (như phúc lợi công cộng, giáo dục, y tế…) của mỗi quốc gia. Mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập. Khi tính Thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần do thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ.Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 Sáu là, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt.
Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. Đối với nền kinh tế - xã hội * Thuế TNCN là một công cụ phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của từng người, do đó phải đảm bảo tính công bằng, cả công bằng theo chiều dọc và chiều ngang. Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều dọc có nghĩa là: người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp. Công bằng trong điều tiết thu nhập theo chiều ngang có nghĩa là người có thu nhập và điều kiện hoàn cảnh như nhau thì nộp mức thuế như nhau và ngược lại, người có thu nhập ngang nhau nhưng điều kiện gia cảnh sống khác nhau thì nộp thuế khác nhau.
Về lý luận, nếu chỉ có công bằng ngang thì vẫn chưa phải là công bằng hoàn hảo mà phải kết hợp giữa công bằng ngang và công bằng dọc. Điều đó có nghĩa là, người có thu nhập thì phải nộp thuế, người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp thì nộp Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 thuế ít căn cứ vào Biểu thuế lũy tiến từng phần; người có thu nhập dưới mức chịu thuế thì không phải nộp thuế; người không có khả năng tạo ra thu nhập hoặc thu nhập quá thấp thì không những không phải nộp thuế mà còn được trợ cấp thêm. Trong nền kinh tế thị trường, người đã giàu lại càng có nhiều điều kiện để giàu thêm, còn người nghèo có nhiều khó khăn lại có nguy cơ ngày càng nghèo hơn. Thông qua biểu lũy tiến từng phần, thuế TNCN động viên mạnh những khoản thu nhập cao của tầng lớp khá giả.
Có thể nói, điều hòa thu nhập xã hội để từng bước đảm bảo công bằng về thu nhập, đời sống giữa các tầng lớp dân cư được xem là vai trò quan trọng nhất mà chính sách thuế TNCN đặt ra. * Góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước. Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần.
Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người. * Góp phần quản lý thu nhập dân cư Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân. Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Quản lý tốt thuế TNCN còn kịp Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 thời phát hiện các khoản thu nhập chưa nộp thuế hoặc cố tình trốn thuế, qua đó giám sát được thu nhập và ý thức chấp hành luật thuế của từng công dân.
Đối với hệ thống thuế * Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác. Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này. * Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau.
Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp. * Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới.
Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 10 bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định.