CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THỰC THI CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý thực thi chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1. Các khái niệm cơ bản + Người có công với cách mạng Căn cứ theo khoản 1, điều 2, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì người có công với cách mạng bao gồm 12 nhóm sau đây: “a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; c) Liệt sĩ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; h) Bệnh binh; i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; m) Người có công giúp đỡ cách mạng.” + Chính sách Thuật ngữ chính sách được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội như chính sách kinh tế, chính sách xã hội, có thể thấy chính sách được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được thể hiện trong các sách cũng như những tài liệu. Cụ thể: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
7 Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995, tr. Từ điển Hành chính (2003) đã đưa ra khái niệm: “Chính sách là chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế” (Từ điển Hành chính, 2003, tr. “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định” (Nguyễn Hữu Hải, 2008, tr.
Như vậy chính sách được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, đó có thể là chiến lược, sách lược, kế hoạch hay chuẩn tắc cụ thể và tác giả chọn cách tiếp cận theo hướng “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định”. + Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội mà cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội. Chính sách bảo đảm xã hội (hay còn gọi là an toàn xã hội - an sinh xã hội) là sự bảo vệ của Nhà nước, của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng. Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta gồm có: Ưu đãi xã hội đối với những người có công lao đối với đất nước; bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các thành phần kinh tế; cứu trợ xã hội đối với những người không may bị rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo.
Căn cứ theo điều 4, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không chỉ người có công với cách mạng mà cả thân nhân của cũng được hưởng các chính sách ưu đãi, cụ thể gồm 5 nhóm chính sách: “1. Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; 2. Bảo hiểm y tế; 3. Điều dưỡng phục hồi sức khỏe; 4.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt 8 sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công với cách mạng; 5. Được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học”. Ngoài ra Khoản 1, Điều 5, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 cũng chỉ rõ “Cơ quan nhà nước, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm vận động, chăm sóc, giúp đỡ người có công với cách mạng và thân nhân của họ bằng nhiều hình thức, nội dung thiết thực”. “Chính sách đối với người có công là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ” (Mai Ngọc Cường, 2013) Như vậy, để thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng với các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Chính ưu đãi với người có công có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội nói chung và trong chính sách bảo đảm xã hội nói riêng. Từ khi có chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng được toàn xã hội quan tâm chăm lo về vật chất, tinh thần; được trân trọng, tôn vinh, biết ơn, đền ơn trả nghĩa…. Đó là tình cảm thiêng liêng, là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn xã hội. Đây là yếu tố thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị xã hội; thúc đẩy sự nghiệp đổi mới với tiến trình hội nhập và phát triển.
+ Quản lý “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.” (Stephen Robbin, 1986) Quan điểm của Stephen Robbin về quản lý đó là: Với nguồn lực có hạn, tổ chức sẽ hoạch định, đưa ra mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai. Sau đó tổ chức phân công sắp xếp công việc. Người đứng đầu sẽ điều khiển hoạt động đồng thời kiểm tra, rà soát việc thực hiện của các cá nhân trong tổ chức. 9 + Thực thi chính sách “Tổ chức đưa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả” (Nguyễn Hữu Hải, Chính sách công, những vấn đề cơ bản, 2014).
Căn cứ theo nội dung Điều 4, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thực thi chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trong nghiên cứu này được hiểu là quá trình thực hiện các hoạt động ưu đãi người có công bao gồm trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe và quá trình hỗ trợ về nhà ở với NCC với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở, thực hiện ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm, được hỗ trợ trong quá trình học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ ĐH (Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13). + Quản lý thực thi chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Như vậy, tổng hợp những khái niệm trên ta có: Quản lý thực thi chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát toàn bộ hoạt động nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công và gia đình của họ. Khái quát về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam hiện nay 1. Quá trình hình thành và phát triển chính sách ưu đãi người có công “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là truyền thống hết sức tốt đẹp và quý báu của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Việc tri ân, biết ơn đối với người có công khai phá, mở mang bờ cõi, chống chọi với thiên tai khắc nghiệt và chống giặc ngoại xâm đã được người Việt chúng ta thực hiện từ rất lâu trong lịch sử. Khi xuất hiện các Triều đại Vua, Chúa trị vì, để tôn vinh, ghi nhận những đóng góp của tập thể và cá nhân có những công lao đóng góp cho đất nước, các vị Vua đã cho lập các Đền thờ, Miếu thờ để thờ cúng; đồng thời phong các sắc phong cho các 10 cá nhân, tập thể có công với nước; đặc biệt là sau những trận đại thắng chống quân xâm lược, để khích lệ, động viên tinh thần cho các tướng sĩ tiếp tục cho cuộc kháng chiến lâu dài, các vị Vua thường triệu tập quần, thần để phong chức tước, ban thưởng vàng, bạc, ruộng đất một cách xứng đáng cho những người hoặc thân nhân những người lập công xuất sắc với nước; rõ nét nhất và đã được lịch sử ghi lại đó là vào thời Trần (1225-1400), Việt sử giai thoại tập 3 của Nguyễn Khắc Thuần (2003) viết về việc “Vua Trần Nhân Tông với việc định công ban thưởng” có đoạn viết: Một năm sau ngày đại thắng trận Bạch Đằng (9-4-1288) quét sạch quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, vua Trần Nhân Tông trịnh trọng tổ chức lễ định công ban thưởng cho triều thần theo thứ tự cao thấp khác nhau. Lễ này diễn ra vào tháng 4 năm Kỷ Sửu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản ký, quyển 5 tờ 56b và tờ 57a) chép rằng: Mùa hạ, tháng 4, định công dẹp giặc Nguyên.
Tấn phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương, Hưng Vũ Vương làm Khai Quốc Công, Hưng Nhượng Vương làm Tiết Độ Sứ. Người nào có công lớn thì được ban Quốc tính.