Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện chính sách an sinh xã hội dựa trên nguyên lý có đóng, có hưởng là định hướng chiến lược then chốt của Việt Nam. Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2019 của Tổng cục Thống kê chỉ ra rằng cả nước có hơn 1,1 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp, trong đó 47,3% tập trung tại khu vực thành thị, tương đương khoảng 529,9 nghìn người. Mặc dù lực lượng lao động tiềm năng rất lớn, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ chiếm khoảng 30% lực lượng lao động cả nước. Kể từ khi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 có hiệu lực đến năm 2019, toàn quốc mới chỉ vận động được khoảng 175 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đạt tỷ lệ khiêm tốn trên 0,5% so với tổng số đối tượng thuộc diện thụ hưởng. Đáng chú ý, theo ước tính của ngành, có trên 70% người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là những người đã từng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tiếp tục nộp để đủ điều kiện hưởng lương hưu, phản ánh mức độ tiếp cận của lao động khu vực phi chính thức lần đầu còn rất hạn chế.

Tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, báo cáo tổng kết năm 2019 ghi nhận toàn địa bàn có 24 đơn vị hành chính Đảng, đoàn thể, 17 xã và thị trấn, 37 trường học cùng 9 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã. Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt 3.596 người, trong khi số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ đạt 525 người, chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng dân số trong độ tuổi lao động của huyện. Trước thực trạng đó, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hoa tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tập trung phân tích thực trạng quản lý thu giai đoạn 2017 - 2019. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định các rào cản cốt lõi, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi đến năm 2025, phấn đấu nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt mục tiêu an sinh xã hội bền vững trên địa bàn huyện Bạch Thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết quản lý tài chính công và hệ thống 7 nguyên tắc bảo hiểm xã hội của tác giả Trần Quang Hùng (1993), đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc san sẻ rủi ro theo quy luật số lớn và nguyên tắc trách nhiệm kép giữa Nhà nước với người lao động. Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện được chuẩn hóa theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP và Thông tư số 01/2016/BLĐTBXH. Các khái niệm trung tâm bao gồm: đối tượng tham gia là công dân từ đủ 15 tuổi không thuộc diện bắt buộc; mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn; sàn thu nhập tối thiểu bằng mức chuẩn hộ nghèo nông thôn (700.000 đồng/tháng giai đoạn khảo sát) và trần tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở. Chính sách hỗ trợ ngân sách quy định mức 30% đối với hộ nghèo, 25% đối với hộ cận nghèo và 10% đối với đối tượng khác. Mô hình nghiên cứu quản lý thu được chuẩn hóa qua chu trình 5 khâu: lập kế hoạch thu theo mẫu K01-TS, phân cấp quản lý thu, quản lý tiền thu, kiểm tra giám sát đối chiếu số liệu và quản lý hồ sơ định danh số sổ bảo hiểm xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tổng kết của Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông giai đoạn 2017 - 2019. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực tế vào tháng 10 năm 2020.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đối với chủ thể quản lý, tác giả tiến hành khảo sát toàn bộ 17 cán bộ, viên chức đang công tác tại Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông (trong đó có 4 chuyên viên chuyên trách bộ phận thu). Đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tổng thể tại thời điểm nghiên cứu là 570 người. Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu xác suất Slovin với sai số chọn mẫu e = 0,05, tính toán ra quy mô mẫu tối thiểu là 235 người. Nhằm gia tăng độ chính xác và tính đại diện, cỡ mẫu điều tra thực tế được nâng lên 250 người lao động, phân bổ ngẫu nhiên thông qua bộ phận một cửa và mạng lưới đại lý thu tại 17 xã, thị trấn. Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) kết hợp thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Kém đến 5: Rất tốt). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa trực quan các nhận định định tính, so sánh chính xác mức độ hài lòng của người dân và đánh giá khách quan hiệu quả quản trị của cơ quan bảo hiểm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng tỷ lệ bao phủ chung vẫn ở mức thấp. Năm 2017, toàn huyện Bạch Thông mới chỉ có 185 người tham gia, đến năm 2018 tăng lên 285 người và đạt 525 người vào năm 2019 (tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2017 - 2019 đạt gần 184%), tiếp tục chạm mốc 570 người vào tháng 10 năm 2020. Mặc dù vậy, con số này chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng tham gia trên địa bàn 17 xã, thị trấn.

Thứ hai, mức thu nhập lựa chọn để đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện có sự lệch pha nghiêm trọng. Bảng thống kê năm 2019 cho thấy có tới 85,2% người tham gia lựa chọn mức chuẩn hộ nghèo nông thôn (700.000 đồng/tháng), tương ứng số tiền thực đóng sau khi Nhà nước hỗ trợ 10% là 138.600 đồng/tháng. Nhóm lựa chọn mức thu nhập từ 1.000.000 đến 1.500.000 đồng/tháng chỉ chiếm 10,6%, và nhóm đóng trên mức 2.000.000 đồng/tháng chỉ chiếm vỏn vẹn 4,2%.

Thứ ba, về cơ cấu phương thức đóng, phần lớn người dân chọn chu kỳ ngắn hạn. Phương thức đóng 3 tháng và 6 tháng một lần chiếm tỷ trọng áp đảo với 62%, phương thức đóng hàng tháng chiếm 28%, trong khi phương thức đóng 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm chỉ chiếm khoảng 10%.

Thứ tư, kết quả điều tra 250 người lao động và 17 cán bộ phản ánh rõ sự chênh lệch trong nhận thức. Cán bộ phục vụ được người dân đánh giá rất cao với điểm số bình quân 4,15/5 điểm, tuy nhiên mức độ am hiểu chính sách và nhận thức về quyền lợi hưu trí dài hạn của người lao động chỉ đạt điểm trung bình 2,85/5 điểm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Bạch Thông phản ánh đặc trưng kinh tế miền núi thuần nông, đời sống của người dân tại 17 xã, thị trấn phụ thuộc vào nông lâm nghiệp với nguồn thu nhập không ổn định theo tháng. Việc đa số người dân chọn mức đóng tối thiểu 700.000 đồng/tháng phản ánh tâm lý an toàn và khả năng tích lũy tài chính hạn chế trước thời hạn đóng tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Bùi Sỹ Lợi (2019) về các rào cản của lao động khu vực phi chính thức, nhưng cũng khẳng định nỗ lực lớn của đội ngũ 17 cán bộ Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông khi luôn hoàn thành vượt từ 1% đến 3% kế hoạch thu hàng năm được cấp trên giao.

Toàn bộ các phát hiện về biến động nguồn thu và cơ cấu đóng nộp được trình bày rõ nét qua biểu đồ cơ cấu phương thức đóng và bảng tổng hợp phân loại theo ngành nghề. Cách thức trình bày dữ liệu dạng bảng phân tổ kết hợp biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch rõ ràng giữa 3.596 lao động bắt buộc và 525 lao động tự nguyện, mang lại cái nhìn trực quan sâu sắc giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn để điều chỉnh chính sách thu phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường và đổi mới toàn diện công tác truyền thông chính sách. Động từ hành động: Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tổ chức đối thoại trực tiếp tại cơ sở và biên soạn tài liệu truyền thông bằng tiếng dân tộc bản địa. Mục tiêu cụ thể: Tiếp cận 100% cán bộ thôn bản và tối thiểu 60% hộ kinh doanh, người lao động tự do tại 17 xã, thị trấn; nâng tỷ lệ phát triển người tham gia mới tăng từ 15% đến 20% mỗi năm. Lộ trình thực hiện: Triển khai thường xuyên từ năm 2021 đến năm 2025. Chủ thể thực hiện: Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông chủ trì, phối hợp với Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thông huyện, Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã.

Thứ hai, mở rộng và chuẩn hóa hệ thống đại lý thu tại các xã, thị trấn. Động từ hành động: Tuyển chọn, bồi dưỡng nghiệp vụ và ký kết hợp đồng trách nhiệm với cán bộ thôn bản, cộng tác viên dân số. Mục tiêu cụ thể: Bố trí ít nhất 1 đến 2 điểm thu đạt chuẩn tại mỗi xã, thị trấn; 100% nhân viên đại lý thu được cấp chứng chỉ tập huấn chuyên môn và kỹ năng tư vấn. Lộ trình thực hiện: Hoàn thành trong năm 2022 và duy trì rà soát hàng quý. Chủ thể thực hiện: Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông phối hợp với Bưu điện huyện và Ủy ban nhân dân các xã.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và phong cách phục vụ của đội ngũ cán bộ thu. Động từ hành động: Tinh gọn quy trình tác nghiệp, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp và tăng cường kỷ luật công vụ. Mục tiêu cụ thể: 100% trong số 17 cán bộ, viên chức tham gia các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng xử lý hồ sơ; duy trì tỷ lệ hài lòng của người tham gia bảo hiểm đạt từ 90% đến 95%. Lộ trình thực hiện: Hàng năm trong giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Ban Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính. Động từ hành động: Tích hợp dữ liệu quản lý định danh, mở rộng các kênh nộp tiền trực tuyến và giao dịch điện tử liên thông. Mục tiêu cụ thể: Đạt tỷ lệ trên 80% hồ sơ quản lý thu được xử lý trên hệ thống phần mềm nghiệp vụ tập trung; giảm ít nhất 30% thời gian luân chuyển chứng từ giữa cơ quan bảo hiểm, đại lý thu và ngân hàng. Lộ trình thực hiện: Đến hết năm 2025. Chủ thể thực hiện: Bộ phận Quản lý thu và Công nghệ thông tin Bảo hiểm xã hội huyện Bạch Thông phối hợp với các ngân hàng thương mại trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý và chuyên viên nghiệp vụ trong ngành Bảo hiểm xã hội tại các địa phương vùng sâu, vùng xa. Luận văn cung cấp quy trình quản lý thu 5 bước chuẩn mực và bài học thực tiễn về cơ chế phân cấp quản lý thu, giúp nâng cao hiệu quả đôn đốc thu nộp và phát triển đối tượng tham gia tại các huyện có điều kiện tương đồng như Bạch Thông.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện và các phòng chuyên môn như Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính - Kế hoạch. Tài liệu này cung cấp luận cứ thực chứng và hệ thống chỉ số bao phủ bảo hiểm xã hội, hỗ trợ lãnh đạo địa phương xây dựng nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và nghiên cứu chính sách hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương ngoài mức hỗ trợ 10% đến 30% của Trung ương.

Nhóm thứ ba là mạng lưới đại lý thu, bưu điện văn hóa xã và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở. Luận văn cung cấp cẩm nang chi tiết về tâm lý người đóng bảo hiểm, các mức đóng linh hoạt và kinh nghiệm vận động người dân đóng theo mùa vụ, giúp các cộng tác viên nâng cao tỷ lệ vận động thành công tại thôn bản.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Chính sách an sinh xã hội. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học mẫu mực về phương pháp nghiên cứu ứng dụng, cách thức vận dụng công thức mẫu Slovin trên quy mô 570 người và quy trình xử lý dữ liệu qua thang đo Likert 5 mức độ.

Câu hỏi thường gặp

Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thấp nhất hiện nay được tính toán như thế nào? Căn cứ theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn là 700.000 đồng/tháng giai đoạn nghiên cứu, mức đóng 22% tương ứng 154.000 đồng/tháng. Sau khi được ngân sách nhà nước hỗ trợ 10% (15.400 đồng), người tham gia thuộc nhóm phổ thông chỉ cần nộp 138.600 đồng mỗi tháng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Người tham gia có thể thay đổi phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hay không? Người tham gia hoàn toàn có quyền thay đổi phương thức đóng giữa các hình thức đóng hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng hoặc đóng một lần cho nhiều năm. Việc thay đổi phương thức đóng được thực hiện ngay sau khi người tham gia hoàn thành xong chu kỳ đóng đã đăng ký trước đó với cơ quan bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện khác biệt căn bản như thế nào so với bảo hiểm xã hội bắt buộc? Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng nguyên tắc người lao động tự nguyện lựa chọn mức thu nhập và phương thức đóng phù hợp khả năng tài chính cá nhân. Loại hình này chỉ chi trả 2 chế độ cơ bản dài hạn là hưu trí và tử tuất, không bao gồm các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản hay tai nạn lao động.

Luận văn đã áp dụng công thức nào để xác định số lượng phiếu khảo sát người lao động? Tác giả đã áp dụng công thức chọn mẫu xác suất Slovin với tổng thể 570 người tham gia và sai số chấp nhận được là 5%. Kết quả tính toán cho ra cỡ mẫu tối thiểu 235 người, sau đó tác giả đã mở rộng khảo sát lên 250 người tại 17 xã, thị trấn nhằm bảo đảm độ tin cậy khoa học cao nhất.

Giải pháp nào giúp hạn chế tình trạng người dân dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện giữa chừng? Cơ quan bảo hiểm xã hội huyện cần thiết lập cơ chế cảnh báo tự động trước thời hạn thu nộp 10 đến 15 ngày qua hệ thống đại lý thu xã. Đồng thời, hướng dẫn người dân chính sách đóng bù cho những tháng tạm dừng với mức tính lãi gộp theo lãi suất quỹ công bố, giúp người dân bảo lưu liên tục quá trình tham gia 20 năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ các huyện tương đồng như Quỳnh Lưu, Thạch An và Hàm Yên.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác thu tại huyện Bạch Thông giai đoạn 2017 - 2019, phản ánh sự gia tăng từ 185 người lên 525 người, đồng thời nhận diện điểm nghẽn có trên 85% đối tượng chọn mức đóng sàn.
  • Khảo sát thực chứng 250 người lao động và 17 cán bộ viên chức, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng từ đặc thù kinh tế 17 xã miền núi đến năng lực vận hành của hệ thống đại lý cơ sở.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp các mục tiêu định lượng cụ thể, hướng tới nâng tỷ lệ bao phủ an sinh và nâng cao mức độ hài lòng của nhân dân lên trên 90%.
  • Khẳng định đóng góp quan trọng của công trình nghiên cứu trong việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đến năm 2025.

Đóng góp chính của luận văn là đã lượng hóa thành công các rào cản quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện tại một địa bàn miền núi đặc thù, đưa ra mô hình tổ chức đại lý thu gắn liền với cấp ủy và chính quyền xã. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông cùng cơ quan Bảo hiểm xã hội cần khẩn trương phối hợp hành động, triển khai đồng bộ các giải pháp về truyền thông, mở rộng mạng lưới đại lý và hiện đại hóa công nghệ, nhằm bảo đảm quyền lợi hưu trí bền vững cho mọi người lao động.