Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm Xét trên phương diện quản lý của mỗi tổ chức, bảo hiểm là hình thức chia sẻ rủi ro được sử dụng từ lâu trên thế giới, thông qua đó cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro.
Khoản trợ cấp này do một tổ chức chi trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê5. Đối với tổ chức nhà nước, việc tổ chức loại hình bảo hiểm để phục vụ xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý xã hội của nhà nước, cho nên bảo hiểm trong trường hợp này được gọi với tên gọi phổ biến là bảo hiểm xã hội. Trên phương diện quản lý nhà nước, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về bảo hiểm xã hội như một hình thức chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và nhân dân (người dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động) để phục vụ cho hoạt động quản lý xã hội của nhà nước. Ở Việt Nam, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định “bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Ngoài việc xác định rõ nội hàm của thuật ngữ “bảo hiểm xã hội”, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản liên quan cũng đã phân định rõ các hình thức BHXH cơ bản, bao gồm BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyên, theo 5 Tham khảo thông tin tại địa chỉ https://www.vn/vi/kien-thuc/bao-hiem-la-gi-cac- thuat-ngu-co-ban-nhat-trong-bao-hiem-ban-nen-biet.html 7 đó “bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”, còn “bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”. Trong phạm vi nghiên cứu, với đề tài có tính ứng dụng gắn với hoạt động quản lý, tác giả sử dụng nội dung quy định về BHXH bắt buộc của Luật BHXH năm 2014 nêu trên làm khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu đề tài. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc Từ những cách tiếp cận và quy định pháp luật nêu trên, có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của BHXH bắt buộc, đó là: - Thứ nhất, chủ thể tổ chức BHXH là nhà nước. Nhà nước tổ chức loại hình này bảo hiểm này bằng quyền lực nhà nước, bằng cách đặt ra quy phạm pháp luật liên quan để quản lý, theo đó các mục tiêu, nội dung, đối tượng, chủ thể và cách thức quản lý BHXH được định ra và áp dụng thống nhất đối với các thực thể khi tham gia BHXH.
- Thứ hai, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Luật BHXH năm 2014, bao gồm: + Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động. + Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. 8 + Cán bộ, công chức, viên chức.
+ Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu. + Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân. + Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí. + Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương. + Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. + Một số đối tượng khác được quy định chi tiết trong Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; Quyết định số 595/QĐ- BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam ban hành Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ BHXH, BHYT. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc được quy định trong Luật BHXH năm 2014, bao gồm: + Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác.
+ Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. 9 + Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Có thể nhận thấy, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật Việt Nam không chỉ bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị, mà còn mở rộng đến tất cả các loại hình tổ chức, thành phần kinh tế hoạt động trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Đây là một trọng những chính sách an sinh xã hội quan trọng góp phần bảo đảm xã hội ổn định, phát triển và là cơ sở để thu hút đối tượng tham gia BHXH bắt buộc cũng như làm gia tăng quỹ BHXH của quốc gia.
Thu bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm Loại hình BHXH bắt buộc do nhà nước tổ chức, theo đó nhà nước sử dụng pháp quyền để bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng góp theo các mức được quy định. Các đối tượng tham gia có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đóng góp của mình một cách nghiêm túc, đầy đủ, nếu không sẽ bị coi là vi phạm pháp luật. Thực tế quản lý nhà nước của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, tình trạng nợ đọng BHXH bắt buộc đã và đang diễn ra.
Tuy nhiên, tùy theo mức độ mà được xếp vào nợ đọng hay trốn đóng BHXH bắt buộc. Và dù thế nào đi chăng nữa, thì nợ đọng hay trốn đóng cũng đều chịu sự tác động bởi những biện pháp cưỡng chế thực hiện của nhà nước; nếu các đối tượng tham gia cố ý không thực hiện, sẽ bị xử lý bằng những hình thức theo quy định của nhà nước. Như vậy, có thể nhận thấy rõ “thu BHXH bắt buộc là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham BHXH gia phải đóng BHXH theo mức quy định, hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH”. Vai trò của thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Thu và chi BHXH là hai nội dung chính trong quản lý tài chính BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng.
Việc thu BHXH bắt buộc là khâu đầu vào hình thành quỹ BHXH, có vai trò quan trọng, thể hiện ở những khía cạnh sau đây: - Thứ nhất, thu BHXH đóng vai trò là nguồn hình thành quỹ BHXH. Quỹ BHXH được coi là xương sống của hệ thống BHXH, là cơ sở quan trọng và quyết định mọi hoạt động của cơ quan BHXH. Do đó, làm tốt công tác thu BHXH bắt buộc sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng quỹ BHXH, đồng thời tạo lập nguồn quỹ để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động. - Thứ hai, thu BHXH bắt buộc có vai trò định hướng đề ra chiến lược dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đối với toàn bộ hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong công tác thu BHXH.
Điều đó là bởi vì, nguồn thu BHXH bắt buộc có tính ổn định, giúp cho hệ thống cơ quan BHXH có sự chủ động về nguồn lực để xây dựng và thực hiện các mục tiêu kế hoạch, chiến lược của mình. - Thứ ba, thu BHXH bắt buộc góp phần khắc phục sự sai lệch của hệ thống thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát. Lý do của vấn đề này là vì quá trình thực hiện mục tiêu luôn có sai lệch giữa kết quả với mục tiêu đề ra và khi hoạt động thu BHXH bắt buộc đạt hiệu quả, nó sẽ là nhân tố (nguồn lực) có tính ổn định để kéo mục tiêu và kết quả thực hiện nhiệm vụ của hệ thống cơ quan BHXH lại gần với nhau. Nguồn thu và mức thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Nguồn thu và mức thu BHXH bắt buộc là hai yếu tố quan trọng hình thành và phát triển quỹ BHXH quốc gia.
Theo quy định của pháp luật hiện hành6, nguồn thu và mức thu BHXH bắt buộc được xác định chủ yếu từ tiền lương do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp, cụ thể: 6 Luật Báo hiểm xã hội năm 2014; Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc. 11 a) Mức đóng góp của người lao động tham gia BHXH bắt buộc - Người lao động (ngoại trừ người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn): Hàng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.