Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại BHXH cấp tỉnh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thu BHXH khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại BHXH tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạiBHXH tỉnh Thái Nguyên. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI BHXH CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại BHXH cấp tỉnh 1.1 Khái niệm, phân loại khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 1.1 Khái niệm Đại hội Đảng lần thứ IV đã nhận định: Trong xã hội ta còn nhiều người có sức lao động, chưa có việc làm, chưa sử dụng hết thời gian lao động. khả năng thu hút sức lao động của khu vực Nhà nước là có hạn trong khi nguồn vốn của Nhà nước eo hẹp thì nguồn dự trữ vốn trong nhân dân hầu như chỉ để đưa vào tiêu dùng, cất giữ.
Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất kinh doanh, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội. Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán, nhưng rất quan trọng trong nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm, từ đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được chính thức thừa nhận. (Bộ Lao động Thương binh và xã hội, 2015) Theo luật doanh nghiệp Nhà nước được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20/04/1995, luật doanh nghiệp sữa đổi được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/06/1999, và luật khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22/06/1994 có quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý. Các loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Doanh nghiệp tư nhân - Công ty + Công ty cổ phần + Công ty trách nhiệm hữu hạn ( gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hoặc hai thành viên trở lên) - Công ty hợp danh - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( vốn đầu tư 100% hoặc liên doanh) - Hộ kinh doanh cá thể Do số lương DNNQD rất lớn, phạm vi thời gian và nguồn tài liệu hạn chế nên tác giả đi sâu vào nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ kinh doanh cá thể * Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và phải chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. * Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty TNHH (Trách nhiệm hữu hạn) là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Trên phương diện pháp luật công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các nghĩa vụ và quyền tương ứng với quyền sở hữu công ty.
+ Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có không nhiều hơn 50 thành viên cùng góp vốn thành lập. + Có 2 loại công ty TNHH : Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Công ty TNHH 1 thành viên là: Là Doanh nghiệp do một tổ chức hay một cá nhân là chủ sở hữu chịu toàn bộ trách nhiệm trước pháp luật Công ty TNHH 2 thành viên là: là Doanh nghiệp trong đó: Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa 7 không vượt quá năm mươi (50) người. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào Doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 điều 48 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13.
Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 52, 53, 54 của Luật Doanh nghiệp. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn (Trái ngược với công ty cổ phần) * Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: - Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn.
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp - Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. * Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
- Hai loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất dành cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là Công ty TNHH và Công ty Cổ phần (JSC). - Tùy thuộc vào ngành công nghiệp, công ty có thể là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOE), hoặc liên doanh với một đối tác địa phương. * Hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh là một loại hình kinh doanh, trong đó: 8 - Do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ; - Đăng ký kinh doanh tại một địa điểm; - Sử dụng dưới 10 lao động; - Chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Đặc điểm chung của các DNNQD Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: * Về phân bố Khu vực này có sự mất cân đối giữa các vùng, có xu hướng ở thành thị phát triển hơn ở nông thôn, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh,.còn ở các nơi khác nhìn chung phần nhiều là các doanh nghiệp nhỏ, lao động và vốn eo hẹp.
Điều này phản ánh quy luật chung của sự phát triển, sự hạn chế về tính năng động, khả năng về vốn, sự tiếp cận thị trường ở các vùng có cơ sở hạ tầng chưa phát triển. * Về quy mô đầu tư Các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh là do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý cho nên có thể nói các doanh nghiệp này thường có quy mô vốn vừa và nhỏ. Quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tỷ lệ thấp, cao nhất là quy mô vốn đầu tư từ 0,5 - 1 tỷ đồng chiếm 98,86% theo thành phần kinh tế. Quy mô này thường thấp hơn nhiều so với quy mô đầu tư của các doanh nghiệp do nhà nước cấp vốn.
Đây là một thách thức lớn khi họ muốn tồn tại, gia nhập và phát triển trên thị trường có sức cạnh tranh lớn ở trong nước cũng như quốc tế. * Về lực lượng lao động Lực lượng lao động ở khu vực này rất đa dạng, từ: lao động đã nghỉ hưu hoặc đang nghỉ mất sức, thôi việc; lao động đi xuất khẩu về; học sinh, sinh viên mới ra trường; lao động chưa qua đào tạo.Sự đa dạng này cho thấy khả năng thu hút lao động ở khu vực này là rất lớn. * Về máy móc hoạt động và công nghệ đầu tư 9 Xuất phát từ hạn chế vốn kinh doanh bình quân hàng năm của khu kinh tế ngoài quốc doanh thấp, do đó, ít điều kiện để trang bị thiết bị sản xuất và công nghệ hiện đại dẫn đến năng suất lao động thường không cao. Chỉ có một số ít các DNNQD có trình độ công nghệ và trang thiết bị hiện đại.
Mặt khác, thị trường tiêu thụ của khu vực này còn nhỏ hẹp, bấp bênh chủ yếu là ở trong nước, trình độ của người lao động còn thấp. dẫn đến khu vực này thường xuyên phải đương đầu với cạnh tranh khốc liệt. * Về lĩnh vực kinh doanh Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tham gia hoạt động kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực nhưng tập trung vào một số ngành đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, thị trường tiêu thụ rộng khắp và ít chịu sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp lớn như các ngành: chế biến nông, lâm, hải sản xuất khẩu; gia công may mặc, đồ da, đồ trang sức; xây dựng cơ bản với các mặt hàng vật liệu xây dựng như: gạch, ngói; gốm sứ, đồ mỹ nghệ xuất khẩu; giao thông vận tải, thông tin, kinh doanh máy tính và sản xuất phần mềm. * Hoạt động đoàn thể Thực trạng trong các DNNQD hiện nay là mối quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động chưa được đảm bảo thoả đáng nên các vụ tranh chấp lao động xảy ra khá phổ biến.
Vấn đề này đòi hỏi phải hình thành và nâng cao vai trò của đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động. * Việc chấp hành các quy định của pháp luật Theo kết quả điều tra về việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn chưa nghiêm túc, tỉ lệ vi phạm các quy định của pháp luật rất cao.