Quản lý thiết bị dạy học THPT huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi - Luận văn

Quản lý thiết bị dạy học THPT Quảng Ngãi hiệu quả. Tìm hiểu quy trình, quy định và giải pháp tối ưu quản lý thiết bị, hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy và học.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ở ngoài nước

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.3. Nhận xét chung

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.2. Khái niệm thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học

1.3. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thiết bị dạy học ở Trường THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

1.3.1. Chương trình giáo dục phổ thông mới

1.3.2. Thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

1.3.3. Quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

1.4. Quản lý thiết bị dạy học trong Trường trung học phổ thông

1.4.1. Quản lý việc trang bị, mua sắm và bổ sung thiết bị dạy học

1.4.2. Quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học

1.4.3. Quản lý việc bảo quản thiết bị dạy học

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông

1.5.1. Các yếu tố ảnh hưởng bên trong

1.5.2. Các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Khái quát về huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.2. Tổ chức thực hiện khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục đích khảo sát

2.2.2. Phương pháp khảo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát

2.2.4. Địa bàn và khách thể khảo sát

2.3. Thực trạng về thiết bị dạy học tại các Trường THPT trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.3.1. Thực trạng thiết bị dạy học về số lượng

2.3.2. Thực trạng thiết bị dạy học về chất lượng

2.4. Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các Trường THPT trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.4.1. Thực trạng nhận thức của các lực lượng về quản lý thiết bị dạy học

2.4.2. Thực trạng quản lý việc trang bị, mua sắm và bổ sung thiết bị dạy học

2.4.3. Thực trạng công tác quản lý sử dụng thiết bị dạy học

2.4.4. Thực trạng quản lý việc bảo quản, sửa chữa thiết bị dạy học

2.5. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị dạy học ở các Trường THPT trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các Trường THPT trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

2.6.1. Những hạn chế, tồn tại

2.6.2. Nguyên nhân những hạn chế, tồn tại

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.1.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp

3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp

3.1.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp

3.2. Một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò và tác dụng của thiết bị dạy học trong việc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học

3.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch trang bị, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học trước khi bước vào năm học mới

3.2.3. Biện pháp 3: Đẩy mạnh việc bồi dưỡng nghiệp vụ bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học

3.2.4. Biện pháp 4: Nâng cao chất lượng công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị dạy học

3.2.5. Biện pháp 5: Phát động phong trào tự làm đồ dùng và sưu tầm thiết bị dạy học trong nhà trường

3.2.6. Biện pháp 6: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc trang bị, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học trong nhà trường

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp đã đề xuất

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Nội dung khảo nghiệm

3.4.3. Đối tượng và phương pháp khảo nghiệm

3.4.4. Kết quả khảo nghiệm

3.5. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quản lý thiết bị dạy học THPT Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học THPT tại Quảng Ngãi đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc quản lý hiệu quả các thiết bị dạy học không chỉ giúp giáo viên truyền tải kiến thức một cách trực quan, sinh động mà còn tạo điều kiện cho học sinh chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, ưu tiên xây dựng phòng học, phòng thí nghiệm và trang bị thiết bị dạy học tối thiểu. Điều này càng khẳng định vai trò của công tác quản lý thiết bị dạy học trong việc thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục toàn diện. Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới được Bộ GD-ĐT ban hành nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu. Theo tài liệu gốc, Chương trình sách giáo khoa (SGK) Trung học phổ thông (THPT) được viết theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học. Thiết bị dạy học là một thành tố quan trọng quyết định sự thành công của việc đổi mới nội dung chương trình SGK THPT, nó có ý nghĩa to lớn trong việc giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực, say mê học tập của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học. Việc quản lý tốt thiết bị dạy học, bao gồm cả việc trang bị, bảo quản và sử dụng, sẽ góp phần cải thiện chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

1.1. Tầm quan trọng của thiết bị dạy học THPT hiện đại

Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục đã tạo ra những khả năng to lớn trong việc sử dụng thiết bị dạy học. Các thiết bị hiện đại như máy chiếu, bảng tương tác, phòng thí nghiệm ảo không chỉ giúp giáo viên trình bày thông tin một cách trực quan, sinh động mà còn tạo ra môi trường học tập tương tác, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập. Tuy nhiên, việc trang bị và sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học hiện đại đòi hỏi sự đầu tư về cơ sở vật chất, năng lực sử dụng của giáo viên và một quy trình quản lý chặt chẽ, khoa học. Bên cạnh đó, TBDH giúp gia tăng cường độ lao động học tập của học sinh và do đó cho phép nâng cao nhịp độ nghiên cứu tài liệu giáo khoa. - Sử dụng TBDH cho phép học sinh có điều kiện tự lực chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo (tự nghiên cứu tài liệu, tự lắp ráp thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm để khai thác nguồn kiến thức mới, lựa chọn câu trả lời, vận dụng…)

1.2. Mục tiêu quản lý thiết bị trường học hiệu quả tại Quảng Ngãi

Mục tiêu chính của việc quản lý thiết bị trường học hiệu quả tại Quảng Ngãi là đảm bảo các trường THPT có đủ thiết bị dạy học tối thiểu, đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập theo chương trình GDPT mới. Đồng thời, cần xây dựng một quy trình quản lý khoa học, chặt chẽ, đảm bảo các thiết bị dạy học được bảo quản, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, tránh lãng phí. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò của thiết bị dạy học và bồi dưỡng kỹ năng sử dụng, bảo quản thiết bị cũng là một mục tiêu quan trọng. Thiết bị dạy học phải phù hợp với yêu cầu về nội dung và phương pháp của chương trình giáo dục; đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm; an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển tâm lý và sinh lý lứa tuổi học sinh.

II. Thực trạng và thách thức trong quản lý thiết bị dạy học

Mặc dù đã có những nỗ lực đáng kể, công tác quản lý thiết bị dạy học tại các trường THPT ở Quảng Ngãi vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Theo tài liệu gốc, việc đầu tư, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học ở một số trường THPT công lập đã có hiệu quả. Tuy nhiên, công tác quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng các thiết bị dạy học vẫn còn hạn chế: có trường THPT còn thiếu thiết bị dạy học, chưa bảo quản và sử dụng hiệu quả những thiết bị dạy học đã có, tần suất sử dụng thiết bị dạy học chưa cao thậm chí nhiều trường hợp sử dụng chỉ mang tính hình thức, đối phó gây lãng phí, chưa có biện pháp quản lý thiết bị dạy học thích hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về nội dung chương trình, phương pháp dạy học. Việc thiếu kinh phí đầu tư, năng lực sử dụng thiết bị của giáo viên còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu bảo quản là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Bên cạnh đó, việc cập nhật và áp dụng các quy định, hướng dẫn mới về quản lý thiết bị dạy học cũng gặp nhiều khó khăn.

2.1. Thiếu hụt và xuống cấp của danh mục thiết bị dạy học THPT

Một trong những thách thức lớn nhất là tình trạng thiếu hụt và xuống cấp của danh mục thiết bị dạy học THPT tại nhiều trường học. Việc thiếu các thiết bị thí nghiệm, thực hành, đồ dùng trực quan ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và học tập. Bên cạnh đó, nhiều thiết bị đã cũ, hỏng hóc, không đảm bảo an toàn khi sử dụng, gây khó khăn cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm. Muốn khắc phục tình trạng này đòi hỏi sự đầu tư lớn về kinh phí, cũng như sự quan tâm, trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục.

2.2. Hạn chế trong năng lực sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên

Năng lực sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác và sử dụng các thiết bị. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều giáo viên còn thiếu kỹ năng sử dụng các thiết bị hiện đại, chưa biết cách tích hợp thiết bị vào bài giảng một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí thiết bị, không phát huy được tối đa tiềm năng của các thiết bị trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Để giải quyết vấn đề này, cần tăng cường bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học mới, cũng như khuyến khích giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau.

2.3. Khó khăn trong việc tuân thủ văn bản quản lý thiết bị dạy học

Việc tuân thủ các văn bản quản lý thiết bị dạy học cũng là một thách thức đối với nhiều trường học. Các quy định, hướng dẫn về quản lý, bảo quản, sử dụng thiết bị thường xuyên được cập nhật, thay đổi, đòi hỏi các trường phải nắm bắt, triển khai kịp thời. Tuy nhiên, do thiếu thông tin, nhân lực hoặc sự quan tâm, nhiều trường chưa thực hiện đầy đủ các quy định này, dẫn đến tình trạng quản lý lỏng lẻo, thất thoát thiết bị. Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các văn bản quản lý thiết bị dạy học, cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các trường.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học THPT

Để nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học tại các trường THPT ở Quảng Ngãi, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, cần tăng cường đầu tư kinh phí để trang bị thiết bị dạy học tối thiểu, đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập. Thứ hai, cần xây dựng một quy trình quản lý khoa học, chặt chẽ, đảm bảo các thiết bị dạy học được bảo quản, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Thứ ba, cần nâng cao năng lực sử dụng thiết bị của giáo viên thông qua các khóa bồi dưỡng, tập huấn. Thứ tư, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về quản lý thiết bị dạy học. Thứ năm, cần đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực từ cộng đồng để đầu tư cho thiết bị dạy học.

3.1. Ứng dụng phần mềm quản lý thiết bị trường học hiện đại

Việc ứng dụng phần mềm quản lý thiết bị trường học hiện đại là một giải pháp hiệu quả giúp các trường THPT quản lý thiết bị dạy học một cách khoa học, chặt chẽ. Các phần mềm này cho phép theo dõi số lượng, tình trạng, lịch sử sử dụng của từng thiết bị, giúp người quản lý nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, chính xác. Bên cạnh đó, phần mềm còn hỗ trợ các chức năng như lập kế hoạch bảo trì, sửa chữa, thống kê, báo cáo, giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho người quản lý. Tuy nhiên, việc lựa chọn và triển khai phần mềm phù hợp đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng, cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và nhà cung cấp.

3.2. Tăng cường kiểm tra kiểm kê thiết bị dạy học định kỳ

Việc tăng cường kiểm tra, kiểm kê thiết bị dạy học định kỳ là một biện pháp quan trọng giúp các trường nắm bắt tình hình thực tế về số lượng, chất lượng, tình trạng của các thiết bị. Qua kiểm tra, kiểm kê, có thể phát hiện các thiết bị bị thiếu hụt, hư hỏng, từ đó có kế hoạch bổ sung, sửa chữa kịp thời. Bên cạnh đó, kiểm tra, kiểm kê còn giúp nâng cao ý thức trách nhiệm của người sử dụng trong việc bảo quản, giữ gìn thiết bị. Việc kiểm tra, kiểm kê cần được thực hiện một cách khách quan, trung thực, có sự tham gia của đại diện các bộ phận liên quan.

3.3. Nâng cao chất lượng công tác bảo quản thiết bị dạy học

Công tác bảo quản thiết bị dạy học đóng vai trò then chốt trong việc kéo dài tuổi thọ, đảm bảo hiệu quả sử dụng của các thiết bị. Để làm tốt công tác này, cần xây dựng một quy trình bảo quản chặt chẽ, bao gồm các bước như vệ sinh, lau chùi, kiểm tra, sửa chữa định kỳ. Bên cạnh đó, cần trang bị các phương tiện, dụng cụ bảo quản phù hợp, cũng như tạo điều kiện cho nhân viên quản lý thiết bị được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng bảo quản. Thêm vào đó, thiết bị dạy học phải được làm sạch và bảo quản ngay sau khi sử dụng; định kỳ bảo dưỡng, bổ sung phụ tùng, linh kiện, vật tư tiêu hao.

IV. Ứng dụng công nghệ trong quy trình quản lý thiết bị dạy học

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quy trình quản lý thiết bị dạy học là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Việc sử dụng các phần mềm quản lý, hệ thống thông tin điện tử giúp các trường THPT quản lý thiết bị dạy học một cách khoa học, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí. Ngoài ra, CNTT còn giúp tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các bộ phận liên quan, tạo điều kiện cho việc ra quyết định nhanh chóng, chính xác.

4.1. Số hóa danh mục thiết bị dạy học THPT tại Quảng Ngãi

Số hóa danh mục thiết bị dạy học THPT là bước đầu tiên trong việc ứng dụng CNTT vào quy trình quản lý. Việc tạo ra một cơ sở dữ liệu điện tử về tất cả các thiết bị trong trường giúp người quản lý dễ dàng tra cứu, tìm kiếm thông tin, cũng như theo dõi tình trạng, lịch sử sử dụng của từng thiết bị. Bên cạnh đó, việc số hóa còn giúp tạo ra một kênh thông tin minh bạch, công khai, giúp các bộ phận liên quan nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, chính xác.

4.2. Xây dựng hệ thống báo cáo và thống kê thiết bị dạy học trực tuyến

Việc xây dựng một hệ thống báo cáo và thống kê thiết bị dạy học trực tuyến giúp các trường THPT theo dõi, đánh giá hiệu quả sử dụng, bảo quản thiết bị một cách dễ dàng, nhanh chóng. Hệ thống này cho phép tạo ra các báo cáo về số lượng, tình trạng, tần suất sử dụng của từng thiết bị, giúp người quản lý có cái nhìn tổng quan về tình hình quản lý thiết bị dạy học trong trường. Bên cạnh đó, hệ thống còn hỗ trợ các chức năng phân tích, dự báo, giúp người quản lý đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời.

V. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Quảng Ngãi

Quảng Ngãi cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, từ đó tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong đó, cần chú trọng đầu tư vào cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh.

5.1. Hoàn thiện cơ chế mua sắm thiết bị dạy học công khai

Để đảm bảo các trường THPT có đủ thiết bị dạy học chất lượng, cần hoàn thiện cơ chế mua sắm thiết bị dạy học công khai, minh bạch, cạnh tranh. Việc đấu thầu, lựa chọn nhà cung cấp cần được thực hiện một cách công khai, minh bạch, có sự tham gia của đại diện các bộ phận liên quan. Bên cạnh đó, cần có các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết bị rõ ràng, khách quan, đảm bảo các thiết bị được mua sắm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn và hiệu quả sử dụng.

5.2. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục Quảng Ngãi và huy động nguồn lực

Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục Quảng Ngãi là một giải pháp quan trọng giúp tăng cường nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là cho thiết bị dạy học. Việc huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong xã hội giúp các trường THPT có thêm nguồn kinh phí để trang bị các thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập. Để làm tốt công tác này, cần có các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp cho giáo dục. Cần chủ động về nguồn kinh phí không nên chỉ trông chờ vào sự cấp phát, đầu tư từ cấp trên mà cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để tăng kinh phí đầu tư trang bị TBDH.

VI. Kết luận và triển vọng của quản lý thiết bị dạy học

Công tác quản lý thiết bị dạy học THPT tại Quảng Ngãi còn nhiều hạn chế và thách thức. Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp quản lý, sự nỗ lực của đội ngũ giáo viên và sự phối hợp của cộng đồng, công tác này sẽ ngày càng được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh.

6.1. Tổng kết các phương pháp dạy và học hiệu quả từ kinh nghiệm quản lý

Sau quá trình phân tích, nghiên cứu, chúng ta có thể tổng kết được một số phương pháp dạy và học hiệu quả từ kinh nghiệm quản lý thiết bị dạy học ở các trường THPT. Đó là sự kết hợp giữa phương pháp truyền thống và hiện đại, giữa lý thuyết và thực hành, giữa giáo viên và học sinh. Điều quan trọng là tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập.

6.2. Hướng tới một tương lai giáo dục số hóa của Quảng Ngãi

Trong tương lai, giáo dục của Quảng Ngãi sẽ ngày càng số hóa, với sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy và học tập. Các trường THPT sẽ được trang bị các thiết bị hiện đại, giáo viên sẽ được đào tạo về kỹ năng sử dụng công nghệ, và học sinh sẽ được tiếp cận với các nguồn tài liệu học tập phong phú, đa dạng trên internet. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và chính sách hỗ trợ từ các cấp quản lý.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục sẽ gồm 3 chương chủ yếu sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Tư Nghĩa. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các Trường Trung học phổ trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.

Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở ngoài nước Từ xưa đến nay, giáo dục luôn là một lĩnh vực khoa học mà ở bất cứ thời đại nào, quốc gia nào cũng đều dành nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu các vấn đề trong giáo dục không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ những vấn đề đó luôn luôn có sự gắn kết, ràng buộc với những lĩnh vực khác trong xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội chính vì vậy nghiên cứu các biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH nhằm nâng cao kết quả giáo dục và đổi mới phương pháp dạy và học là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Để nâng cao chất lượng giáo dục thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.

Để sử dụng có hiệu quả TBDH, vai trò của các biện pháp quản lý là hết sức quan trọng. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất. Hội nghị Quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1984 cũng như nhiều hội nghị về TBDH ở các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định ngành giáo dục cần được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBDH và phương pháp để tạo cho tất cả các học sinh có những cơ hội học tập. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, kỹ thuật và xã hội mà tất cả các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện CSVC và TBDH nhằm phù hợp với sự hiện đại hoá nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.

Các nước có nền kinh tế phát triển đều quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các TBDH hiện đại, đạt chất lượng cao, cần thiết cho nhu cầu giáo dục mỗi nước. Hiện nay nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, sử dụng rộng rãi đĩa hình và bước đầu sử dụng mạng Internet trong giáo dục. Trong khoảng 15-20 năm gần đây, các thiết bị điện tử, máy vi tính, rôbốt, các đồng hồ điện tử số đo chính xác cao, ti vi, video,. đã được nghiên cứu, thiết kế và tăng cường cho các Trường phổ thông.

Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành các tiêu chuẩn TBDH từ mẫu giáo đến trung học phổ thông. Tiếp theo là những tiêu chuẩn đã được xây dựng và ban hành vào các năm 1975, 1985. Từ năm 1986 trở lại đây, dưới dạng các đề tài nghiên cứu cấp bộ và đề tài tiêu chuẩn đo lường cấp ngành, Viện khoa học 6 giáo dục đã tiếp tục triển khai xây dựng hệ thống tiêu chuẩn danh mục TBDH trường tiểu học, THPT, THPT phục vụ chương trình cải cách giáo dục và chương trình thí điểm chuyên ban. Bản danh mục là cơ sở pháp lý cho việc xác định mục tiêu, nội dung các mặt công tác TBDH (nghiên cứu, thiết kế mẫu, tổ chức sản xuất, trang bị và tự làm) từ Trung ương đến địa phương.

Bản danh mục cũng đồng thời làm cơ sở pháp lý để các Trường học, các cấp giáo dục thuyết phục các ngành, chính quyền địa phương và cha mẹ học sinh quan tâm đầu tư kinh phí và vật tư cho việc trang bị và sử dụng TBDH. Hiện nay, ở nước ta kinh phí đầu tư cho mua sắm TBDH còn hạn hẹp. Theo qui định của Thông tư 30 Liên bộ Tài chính - Giáo dục và Đào tạo, ngày 24-7-1990 thì kinh phí dành cho mua sắm sách và thết bị giáo dục là 6-10% ngân sách giáo dục, nhưng theo số liệu mới nhất, trong thực tế bình quân cả nước chỉ đạt 3,7% ngân sách của nhà nước đầu tư cho giáo dục; trong đó mua sắm TBDH là 1,5%. Điều đó cho thấy TBDH còn thiếu nhiều so với yêu cầu, vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục nói chung là cần phải nghiên cứu thực trạng đơn vị mình, có kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH phù hợp với điều kiện vùng miền và địa phương mình; công tác quản lý sử dụng TBDH cũng cần được tăng cường, nâng cao hơn nữa.

Với hiệu trưởng các Trường THPT muốn nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trước hết cần nắm vững các khái niệm về CSVC sư phạm và khái niệm về TBDH, vị trí, vai trò của TBDH trong quá trình dạy học và một số vấn đề về quản lý TBDH trong nhà trường. Cho đến nay các đề tài nghiên cứu về quản lý TBDH ở trường THPT chưa nhiều, chưa được nghiên cứu sâu sắc. Đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi. Do đó đề tài nghiên cứu về quản lý TBDH ở các trường THPT huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi là hết sức cần thiết.

Nhận xét chung Qua quá trình nghiên cứu của các tác giả thông qua những công trình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy về cơ bản hiện nay đã xây dựng được một hệ thống lý luận tương đối đầy đủ, hệ thống và toàn diện về vai trò, tác dụng, cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng. Như vậy, TBDH được xác định là một thành tố quan trọng đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong các Trường hiện nay. Tuy nhiên, công tác quản lý TBDH trong quá trình dạy học nói chung và ở các Trường THPT huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi chưa được nghiên cứu đầy đủ, kỹ càng và chưa chuyên sâu. Do đó đề tài nghiên cứu về quản lý TBDH ở các Trường THPT huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi là hết sức cần thiết.

Một số khái niệm cơ bản 7 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình.

Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động. Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, quản lý là "Phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu".

Theo quan điểm của điều khiển học, quản lý là "chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận hành và phát triển". Uinslon Taylo (1856-1915) người Mỹ được coi là "Cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học", là một trong những người mở ra "Kỷ nguyên vàng" trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là "Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ". Ông cho rằng.

"Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất". Theo Mác, bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những tổng quan độc lập của nó. Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người. Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng.

"Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định". Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm. "Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ". Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau, nhưng tác giả nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là: - Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, 8 đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của tập thể.

- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định phát triển, đạt được những mục tiêu đã định. Như vậy, quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. - Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm các thành phần. + Chủ thể quản lý (Người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu dẫn dắt điều khiển các đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ