CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DẠY HỌC THỰC HÀNH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trong nước Khi nghiên cứu về giáo dục học chúng ta đã biết một kết luận quan trọng, đó là: “Tính trực quan là tính chất có tính quy luật của quá trình nhận thức khoa học”. Về mặt lý thuyết, học tập là quá trình nhận thức, vì vậy việc học của HSSV chỉ có hiệu quả khi nó diễn ra theo đúng quy luật nhận thức đi từ cụ thể, trực quan đến tư duy khái quát, trừu tượng.
Đồng thời, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức và thực hành độc đáo của học sinh, sinh viên do giáo viên tổ chức, điều khiển, quản lý theo một chương trình, một mục tiêu đã xác định. Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới khẳng định vai trò của phương tiện, thiết bị dạy học trực quan trong quá trình dạy học. Thiết bị dạy học có tác dụng minh họa cho bài giảng của GV về những sự vật hiện tượng và các quá trình sảy ra trong thực tế tạo điều kiện cho HSSV nắm vững, chính xác và sâu sắc kiến thức nhằm phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách của HSSV. Ngày nay trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, yêu cầu giảng viên phải sử dụng thiết bị dạy học trực quan làm công cụ nhận thức, công cụ tìm kiếm thông tin và rèn luyện kỹ năng vận dụng lý thuyết để nâng cao kết quả học tập của người học trong quá trình dạy học.
Xác định được vai trò quan trọng của thiết bị dạy học trong quá trình giáo dục, chính vì vậy trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các vấn đề quản lý bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học trong các nhà trường. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam trong rất nhiều các văn bản của Đảng và Nhà nước quy định về việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật trong nhà trường nói chung và thiết bị dạy học nói riêng như: Luật Giáo dục 2005, Thông tư số 57/2011/TT- BGDĐT ngày 2/12/2011, Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng… Nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm có công trình nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Phạm Văn Thuần, Ngô Quang Sơn. Trong dân gian Việt Nam có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” ý muốn nói đến mức độ tác động khác nhau của các hoạt động thực tế sinh động lên giác quan của con người trong quá trình lĩnh hội tri thức. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, Người có nhấn mạnh: Học với hành phải đi đôi.
Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng các cộng sự với công trình “Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thức tiễn” có nội dung nghiên cứu về quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà trường. Trong đó các tác giả đã khẳng định vai trò, ý nghĩa của thiết bị dạy học, cơ sở phân loại và một số biện pháp quản lý thiết bị trong các nhà trường.
Trong cuốn “Quản lý tài chính và cơ sở vật chất trong giáo dục” của tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền và Nguyễn Vân Anh đã có chuyên đề nghiên cứu, phân tích về nghiệp vụ quản lý tài sản cơ sở vật chất trong các cơ sở giáo dục, trong đó có đề ra một số biện pháp quản lí tài sản, cơ sở vật chất hướng đến nâng cao chất lượng dạy và học. Tác giả đã phân tích khá cụ thể về vai trò và cách thức sử dụng hiệu quả phương tiện, thiết bị trong quá trình dạy học. Đề tài cấp Bộ “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng” được thực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện năm 2005 của tác giả Ngô Quang Sơn đã có những đánh giá cụ thể về quản lý thiết bị dạy học [27]. Tác giả Phạm Văn Thuần với đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường phổ thông đáp ứng yêu cầu dạy học theo tiếp cận năng lực” trên Tạp chí thiết bị giáo dục năm 2016, đã phân tích khá cụ thể về vai trò của thiết giáo dục trong quá trình dạy học, đồng thời chỉ ra một số giải pháp quản lý thiết bị giáo dục trong các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay [30].
Tác giả Nguyễn Văn Thành với đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở Trường trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” đã phân tích thực trạng và đưa ra một số biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các Trường trung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Tác giả Lương Thị Vân Anh đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học tại các trường Trung học phổ thông huyện Thủy nguyên thành phố Hải Phòng” trên cơ sở phân tích thực trạng đã đưa ra một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học tại các trường trung học phổ thông ở Huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng. Nghiên cứu ngoài nước Ở Ấn Độ, khi tổng kết quá trình dạy học người ta đã khẳng định: * Tôi nghe – tôi quên Khi HSSV chỉ được nghe giảng, sự hình thành khái niệm phụ thuộc nhiều vào vốn kiến thức và sự hiểu biết của các em và kinh nghiệm, kỹ năng truyền thụ của GV. Nếu HSSV không có trí tưởng tượng tốt sẽ rất khó hình dung được các sự vật, hiện tượng mà GV trình bày.
* Tôi nhìn – tôi nhớ Kiến thức thu nhận được qua việc nhìn là rất sinh động, liên tục và chính xác làm cho học sinh, sinh viên nhớ lâu. Điều này có nghĩa là nếu sử dụng các dụng cụ, phương tiện có tính trực quan sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức. * Tôi làm – tôi hiểu. Khi nghiên cứu về một vấn đề mà người học sử dụng tất cả các giác quan để nhận biết đặc biệt là được trực tiếp thực hiện các thao tác của quá 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình thông qua các thiết bị, phương tiện thì hiệu quả sẽ rất toàn diện và chính xác.
Bởi vậy việc học bằng thực hành là có hiệu quả nhất nghĩa là phải có vật tư, thiết bị thực hành cho người học thì mới đạt tới mục tiêu giáo dục cao. Tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị trường học chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục và đào tạo khi được quản lý tốt. Chính vì vậy cho nên đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn hết là phải chú trọng đến việc quản lý tài sản, cơ sở vật chất, thiết bị nhà trường. Vì tài sản cơ sở vật chất thiết bị trường học là một lĩnh vực mang tính kinh tế - giáo dục lại vừa mang tính khoa học giáo dục, cho nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ theo các yêu cầu chung về quản lý tài sản công và quản lí khoa học, mặt khác, cần phải tuân thủ theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục.
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong các yếu tố quan trọng quyết định điều kiện đầu vào mà tất cả các cơ sở giáo dục đều hết sức quan tâm, tuy nhiên việc nghiên cứu về thiết bị dạy học trong các trường cao đẳng chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến. Đặc biệt ở Trường Cao đẳng Dược Phú Thọ trong những năm qua công tác quản lý thiết bị dạy học cũng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”.
Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh,… theo lý thuyết hệ thống: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”. Giáo trình Khoa học quản lý- Tập 2- NXB KHKT-2001. Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc.
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Fayel quan niệm về quản lý như sau: Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy. Tác giả Đặng Quốc Bảo đã dẫn chứng tuyên ngôn quan niệm P. Drucker: "Mục tiêu cuối cùng của khoa học quản lý là phải làm sao cho tổ chức hạn chế được rủi ro, vượt qua những rủi ro lớn, đưa rủi ro đến mức thấp nhất, tránh được rủi ro" [1, tr. Theo quan niệm của Peter.
Dalark: Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.