phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nƣớc Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 3 z Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài sản công tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nƣớc Trong thời gian qua, quản lý tài sản công là một vấn đề đã đƣợc một số công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến. Cụ thể nhƣ: Luận án tiến sĩ "Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2009. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp, đƣa ra khái niệm và phân tích những nội dung cơ bản của cơ chế quản lý nhà nƣớc đối với tài sản công, dẫn chứng những cơ chế quản lý tài sản công ở một số quốc gia trên thế giới.
Đồng thời luận án cũng đƣa ra thực trạng về cơ chế quản lý nhà nƣớc với tài sản công và phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu lực, hiệu quả của cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp. Luận án tiến sĩ "Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam " của tác giả Phan Hữu Nghị, trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2009. Về lý luận, luận án đã hệ thống lý thuyết và đánh giá thực trạng về quản lý tài công là trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, cùng với những kinh nghiệm quản lý tài sản công ở một số nƣớc, từ đó đƣa các nguyên tắc chung và giải pháp về quản lý tài sản công. Trong thời gian gần đây, đã có luận án tiến sĩ "Quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam", của tác giả Trần 5 z Việt Phƣơng, trƣờng Học viện Tài chính, năm 2017.
Luận án đã đƣa ra cơ sở lý luận nghiên cứu phân tích những vấn đề cơ bản về tài sản công tại cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nhiệp công lập, cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nhiệp công lập, kinh nghiệm quốc tế về cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nhiệp công lập và khả năng vận dụng cho Việt nam; phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nhiệp công lập ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp trên cơ sở đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt ra của Nhà nƣớc ta trong việc quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công lập thời gian tới. Bên cạnh các luận án tiến sĩ nêu trên, còn có luận văn thạc sĩ "Quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Lý, trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014. Luận văn đã đƣa ra cái nhìn tổng thể về mô hình, cách thức quản lý và thực trạng sử dụng tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Giúp độc giả nắm bắt đƣợc những chủ trƣơng chính sách mới của Đảng và Nhà nƣớc về việc quản lý tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp công lập, cung cấp cho độc giả những số liệu tổng thể về thực trạng sử dụng tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp.
Trên cơ sở thực trạng và hệ thống các văn bản mới đƣa ra những giải pháp mới đề phù hợp với tình hình quản lý tài sản nhà nƣớc tại đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên "Hoàn thiện quản lý tài sản công đối với cơ quan hành chính sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang", trƣờng Đại học Thái Nguyên, năm 2014 đã tìm ra mặt hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý tài sản công và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý tài sản công đối với cơ quan hành chính sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới. 6 z Hay bài viết “Giải pháp quản lý, sử dụng tài sản công tiết kiệm, hiệu quả” của tác giả Nguyễn Tân Thịnh trên Tạp chí tài chính, năm 2016. Tác giả đã đƣa ra tổng quát cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, những đánh giá khách quan, trung thực về thực trạng quản lý sử dụng tài sản công giai đoạn 2009 - 2016 trên các mặt: kết quả đạt đƣợc, tồn tại hạn chế và nguyên nhân.
Từ đó tác giả đề ra 09 giải pháp bao quát nhất, phù hợp với thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công trong cả nƣớc. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về quản lý tài sản công, đã đƣa ra đƣợc các khái niệm tổng quát về tài sản công, cùng với những chính sách, quan điểm về khai thác và bảo vệ, đầu tƣ phát triển tài sản công; bên cạnh đó chỉ ra những nguyên nhân và hạn chế trong công tác quản lý tài sản công từ đó đề ra những giải pháp khả thi, có thể áp dụng vào thực tiễn, giúp hiện đại hóa công tác quản lý nhà nƣớc và nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong quản lý, sử dụng tài sản công. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu tài sản công ở tầm vĩ mô cấp nhà nƣớc cấp ngành cấp tỉnh, tập trung giải quyết đến các vấn đề về quản lý tài công trên các luật định, cơ chế chính sách, xét riêng trong ngành Tòa án cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý tài sản công của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài này là một vấn đề mới, thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình nói riêng, góp phần tăng cƣờng hiệu quả quản lý tài sản công của ngành Tòa án, của nhà nƣớc nói chung.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nƣớc 1.1 Tài sản công Theo điều 53 Hiến pháp 2013 thì Tài sản công được định nghĩa là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
7 z Cũng tại điều 197, Luật Dân sự 2015 đã nêu: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo điều 04 Luật Quản lý sử dụng tài sản công năm 2017, tài sản công đƣợc phân loại nhƣ sau: 1. Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan nhà nƣớc, đơn vị lực lƣợng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật về hội, trừ tài sản quy định tại khoản 4 Điều này (sau đây gọi là tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị); 2. Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nƣớc, vùng biển gắn với công trình kết cấu hạ tầng, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, hạ tầng thƣơng mại, hạ tầng thông tin, hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và công nghệ, hạ tầng y tế, hạ tầng văn hóa, hạ tầng thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu hạ tầng); 3.
Tài sản công tại các tổ chức là doanh nghiệp; 4. Tài sản trong các dự án sử dụng vốn nhà nƣớc; 5. Tài sản đƣợc xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật bao gồm: tài sản bị tịch thu; tài sản vô chủ, tài sản không xác định đƣợc chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm 8 z đƣợc tìm thấy, tài sản không có ngƣời nhận thừa kế và tài sản khác thuộc về Nhà nƣớc theo quy định của Bộ luật Dân sự; tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nƣớc; tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nƣớc Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động; tài sản đƣợc đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ đƣợc chuyển giao cho Nhà nƣớc Việt Nam theo hợp đồng dự án; 6. Tiền thuộc ngân sách nhà nƣớc, các quỹ tài chính nhà nƣớc ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nƣớc; 7.
Đất đai; tài nguyên nƣớc, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, kho số viễn thông và kho số khác phục vụ quản lý nhà nƣớc, tài nguyên Internet, phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và các tài nguyên khác do Nhà nƣớc quản lý theo quy định của pháp luật.2 Cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nƣớc là một bộ phận của bộ máy nhà nƣớc, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc.