CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Cho đến hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu cả ở trong nước và trên thế giới về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tiêu biểu là những công trình dưới đây: Harvey Rosen (2000) đề cập đến các vấn đề đánh thuế và chi tiêu của Chính phủ. Việc đánh thuế bắt đầu bằng các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý thuế, và các biện pháp khác nhằm đảm bảo sự tuân thủ tự nguyện, giảm bớt tình trạng trốn thuế, và đảm bảo rằng việc thu thuế và các biện pháp khuyến khích là nhất quán với quy phạm pháp luật. Một nhiệm vụ then chốt khác là dự toán số thu làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ngân sách.
Phần chi tiêu bao quát chu trình ngân sách, bao gồm cả chuẩn bị ngân sách, các biện pháp kiểm soát nội bộ, kế toán, kiểm toán nội bộ và kiểm toán từ bên ngoài, mua sắm, chế độ báo cáo và kiểm tra. Wolfgang Streeck và Daniel Mertens (2011) đề cập đến cơ cấu chi đầu tư công trong điều kiện ngân sách hạn chế trên cơ sở việc khảo sát thực tế đầu tư công của ba nước: Mỹ, Đức và Thuỵ Điển giai đoạn 1981 - 2007. Chi đầu tư công của các quốc gia này có xu hướng tăng cao trong cả giai đoạn 1981 - 2007 và chủ yếu tăng đầu tư về nghiên cứu và phát triển, giáo dục, hỗ trợ cho gia đình, chính sách thị trường lao động. Hai tác giả đã tiến hành đánh giá năng lực của Chính phủ trong điều kiện thắt lưng buộc bụng tài chính để chuyển các NLTC vốn đã hạn hẹp sang tài trợ cho cho các chương trình định hướng tương lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội công bằng và hiệu quả hơn.
Những dữ liệu tại Đức, Thuỵ Điển và Mỹ trong những năm 1981-2007 là cơ sở để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn. 4 Tại Việt Nam, Trần Trí Trinh (2018) đã làm rõ các vấn đề cơ bản về cải cách quản lý tài chính công trong mối quan hệ với cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là các nguyên tắc, nội dung, yêu cầu của quản lý tài chính công, cũng như mối quan hệ, vai trò và tác động của cải cách quản lý tài chính công đối với cải cách hành chính nhà nước. Tác giả luận án cũng đã trình bày, phân tích và đánh giá tương đối khách quan và xác đáng tình hình thực hiện cải cách quản lý tài chính công tại nước ta trong những năm gần đây. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã chỉ rõ các thành tựu cũng như một số tồn tại, hạn chế và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó.
Các vấn đề quan trọng đặt ra trên cơ sở thực trạng cải cách quản lý tài chính công cần giải quyết trong thời gian tới cũng đã được tác giả đưa ra như một số nội dung liên quan tới chính sách tiền lương, cơ chế tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp, việc thực hiện xã hội hoá dịch vụ công và phân cấp quản lý tài chính. Phạm Chí Thanh (2017) nghiên cứu, tiếp cận tài chính đối với khu vực sự nghiệp công với tư cách là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với ĐVSNCL trong sự hình thành, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ. Qua đó làm rõ bản chất, chức năng tài chính của ĐVSNCL trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tác giả đã phân tích mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước giao nhiệm vụ và kinh phí thực hiện nhiệm vụ với ĐVSNCL tổ chức hoạt động cung cấp dịch vụ, tức là Nhà nước mua các dịch vụ của đơn vị này.
Do vậy, đơn vị được quyền quyết định trong quản lý, sử dụng kinh phí và chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp cần đổi mới theo hướng xoá bỏ bao cấp, thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và hoạt động của ĐVSNCL. Đổi mới chính sách tài chính đối với cả khu vực sự nghiệp công lập được luận giải là một quá trình liên tục, hướng đến mục tiêu quản lý NSNN đối với ĐVSNCL theo ết quả hoạt động. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp, trong đó có những giải pháp có tính đột phá: chuyển chính sách phí, lệ phí hiện nay sang chính sách quản lý giá dịch vụ, theo hướng ĐVSN thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí hoạt động bao gồm cả chi phí khấu hao; chuyển cơ chế chi NSNN cho ĐVSNCL 5 mang tính bao cấp hiện nay sang quản lý chi theo kết quả hoạt động, có các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với các đối tượng chính sách. Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nhiều phân tích định tính, những đánh giá tác động của chính sách tài chính đối với ĐVSNCL chưa được lượng hoá đầy đủ.
Mặt khác, giải pháp đổi mới chính sách tài chính chung cho khu vực sự nghiệp chưa được cụ thể đối với từng lĩnh vực như: y tế, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao. Lê Hùng Sơn (2015) cho rằng quản lý tài chính chỉ đơn thuần là quản lý thu - chi. Tuy nhiên, theo học thuyết quản lý tài chính của nhà nghiên cứu Ezra Solomon (Học thuyết mà tác giả sử dụng để phân tích những lý thuyết cơ bản liên quan trong luận án) cho thấy, việc quản lý tài chính không chỉ quản lý thu - chi mà bao gồm quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán, quyết toán và phân tích kế hoạch triển khai, quản lý những mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội và trong mối quan hệ về tiền tệ. Vì vậy, mọi cách tiếp cận để đưa ra giải pháp quản lý tài chính của các tác giả của một số công trình nghiên cứu trước đây đều chỉ để cập đến vấn đề quản lý những gì mình đã có (giới hạn ở phần thu và chi).
Một vấn đề nữa cũng khá phổ biến ở các đề tài đã công bố trước đây, khi đưa ra một giải pháp hầu như các tác giả không cho người đọc biết cách phải làm như thế nào? Ví dụ, tác giả đưa ra “giải pháp cần loại bỏ các chi phí mà cấp trên chưa đồng ý chi” (trong phần quản lý các khoản chi), loại bỏ như thế nào, tác giả lại hông đề cập. Hay theo một số tác giả khác cho rằng để quản lý tốt tài chính cần phân chia quản lý tài chính thành quản lý tài sản, quản lý nguồn vốn. Sau đó, phân chia nguồn vốn của doanh nghiệp theo hình thức sử dụng gồm vốn lưu động, vốn cố định. Ở đây, tác giả đã nhầm lẫn quản lý vốn và quản lý tài sản.
Đặng Văn Du (2017) đã phân tích khá sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học. Luận án đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH ở Việt Nam, phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính qua các tiêu chí được xây dựng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho GDĐH ở nước ta. Tuy nhiên, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài này tập trung vào hiệu quả 6 đầu tư tài chính đối với GDĐH nói chung, hó có thể vận dụng với mô hình đào tạo há đặc thù đó là đào tạo chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam. Bùi Thị Vân (2019) đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, khái quát được các bài học kinh nghiệm quản lý tài chính của một số tập đoàn kinh tế nhà nước.
Bằng các phương pháp nghiên cứu như phân tích – tổng hợp, thống kê – mô tả, so sánh và kết hợp điều tra đối với 125 cán bộ nhân viên tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, luận văn đã đánh giá được những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế đặt ra trong công tác quản lý tài chính tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Căn cứ vào những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, luận văn đã đề xuất được 3 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam đó là: hoàn thiện công tác lập kế hoạch, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch, hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát đối với công tác quản lý tài chính. Nguyễn Văn Việt (2017) đã tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý tài chính tại doanh nghiệp và chỉ ra được khoảng trống về mặt khoa học, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước. Luận án đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup và chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup đó là: công tác lập kế hoạch còn sơ sài, chưa phát huy tinh thần dân chủ; công tác tổ chức thực hiện kế hoạch chưa nghiêm, còn sảy ra nhiều sai sót trong quản lý thu – chi; công tác thanh tra, giám sát còn mang tính hình thức.
Căn cứ vào những tồn tại, hạn chế, luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp để hoàn thiện quản lý tài chính tại Tập đoàn Vingroup đó là: hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch, hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát. Qua tìm hiểu và nghiên cứu các công trình nói trên, tác giả thấy rằng: các công trình nghiên cứu đều đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính ở tổ chức công ở nhiều góc độ chuyên ngành khác nhau, nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện ở một số tổ chức công và kiến nghị được nhiều giải 7 pháp có giá trị trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở một số tổ chức công.