LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Kể từ thời điểm đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 diễn biến căng thẳng, gây ra rất nhiều khó khăn, thách thức cho nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế quốc dân đã phải chịu tác động tiêu cực chưa từng có khi năm 2020, ước tính cho thấy trong vòng 10 năm thì 2020 là năm có tăng trưởng nền kinh tế ở mức thấp nhất chỉ 2,91%. Chỉ tính riêng trong năm 2021, đã có tới 119,8 nghìn DN rút lui khỏi thị trường, bình quân một tháng có gần 10 nghìn DN không thể “cầm cự” trước sự tàn khốc của đại dịch Covid-19 và buộc phải tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi nhiều DN muốn duy trì được hoạt động của mình đã quyết định “gánh trên lưng” những món nợ khổng lồ vượt ngoài khả năng trả nợ của DN.
Tuy nhiên, có thể nói, Covid-19 chính là chất xúc tác trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một DN một cách khách quan, bởi trong thời kỳ cả nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, nội lực và giá trị thực sự của một DN được bộc lộ rõ rệt nhất. Chính trong thời kỳ này, có một thuật ngữ dù không mới nhưng đến nay mới thực sự phổ biến, được dùng để chỉ những DN vẫn tiếp tục hoạt động ngay cả khi chúng vỡ nợ hoặc gần phá sản, đó là “DNSTV”. Sự tồn tại của DNSTV cản trở sự phát triển của toàn ngành do nguồn tiền thu được sẽ sử dụng để bù lỗ, không tạo ra được giá trị gia tăng khiến năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh ngày càng sụt giảm và tạo gánh nặng cực lớn đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Hơn nữa những DN này còn “nương tựa” vào các khoản trợ cấp và cứu trợ của chính phủ để có thể tiếp tục sống sót, khiến cho nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế càng trở nên khó khăn.
Không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung mà những DNSTV này còn tạo ra nhiều khó khăn cho thị trường tài chính và thị trường vốn của quốc gia. Bởi lẽ, DNSTV một khi còn tồn tại trên thị trường chứng khoán là đang sử dụng một cách “cơ hội” vốn của các nhà đầu tư. Như nói ở trên, bản thân một DN có sức khỏe tài chính không tốt mà vẫn còn tồn tại trên thị trường chứng khoán sẽ làm cho thị trường kém minh bạch, hiệu quả, báo cáo tài chính không thể hiện được đúng tình hình tài chính của DN khiến rủi ro trên thị trường tài chính cao, đe dọa lợi ích nhà đầu tư, gây lũng đoạn thị trường. Khi DN thực sự yếu kém, để tồn tại trên thị trường tài chính, DN sẽ có động lực thực hiện hành vi thao túng lợi nhuận để đủ điều kiện niêm yết, dẫn đến việc nhiều 1 DN có giá trị thị trường không tương xứng với giá trị thật sự của mình, đồng nghĩa rằng, điều này sẽ mang đến nhiều rủi ro cho thị trường tài chính, đặc biệt là các nhà đầu tư khi lợi nhuận không phản ánh giá trị thực sự của DN.
Trên thực tế, 2021 là năm thị trường thế giới gặp nhiều khó khăn, có nhiều DN tạm dừng sản xuất vì giãn cách xã hội, đặc biệt là các khu công nghiệp phía Nam, tuy nhiên, mỗi lần Nhà nước ban hành lệnh giãn cách, thị trường chứng khoán lại tăng điểm, thậm chí đạt mức tăng kỷ lục lên tới 1500 vào cuối năm 2021. Đây chính là minh chứng điển hình cho việc các DN yếu kém đang làm lũng đoạn thị trường. Hậu quả, sau quá trình tăng nóng, thị trường cổ phiếu lao dốc vào đầu năm 2022, trở thành một trong những lần giảm điểm khốc liệt nhất trong lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam. Với thị trường vốn, các DNSTV khiến cho hệ thống các tổ chức tài chính phải tạo điều kiện một vòng lãi suất hỗ trợ cho các DN này trong khi nguồn thu chính của các ngân hàng là thu nhập từ lãi.
Trong năm 2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Văn bản số 5596/NHNN-VP “yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm nguồn chi phí hoạt hoạt động để tạo tiền đề giảm lãi suất cho các khoản vay mới giúp hỗ trợ khách hàng cá nhân và DN, góp phần phục hồi nền kinh tế”, kết quả là, tăng trưởng lợi nhuận của nhóm ngành ngân hàng đạt được kỳ vọng kém hơn về lợi nhuận. Không chỉ tác động đến kinh tế, DNSTV còn gây ra ảnh hưởng về mặt xã hội. Do DNSTV luôn gặp khó khăn về nợ phải trả, hoạt động không liên tục và lợi nhuận thu về âm, với những DN có số lượng nhân công lớn như ngành sản xuất, mức lương của người lao động sẽ không cao, không đảm bảo cho việc cải thiện mức sống cho người lao động. Có thể thấy, DNSTV không chỉ tác động tiêu cực một cách rõ ràng đến hiệu quả sản xuất và kinh doanh của toàn ngành, mà còn gây ra không ít những ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của kinh tế, xã hội.
Chính vì vậy, việc kiểm tra mục đích kinh doanh thực chất của DN để xác định một DN có đang thực sự không thể thoát khỏi tình trạng sống thực vật hay đang cố tình sống thực vật để tận dụng các ưu đãi về lãi suất và các gói trợ cấp về chính phủ, được niêm yết trên thị trường chứng khoán nhằm mở rộng nguồn vốn, phát hành trái phiếu, thu lợi bất chính hay không là một điều vô cùng cần thiết lúc này. Cùng với đó, nhóm ngành sản xuất là nhóm ngành chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế với số lượng DN đông đảo, đồng thời, nhóm ngành này cũng chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường vĩ mô nên đại dịch Covid-19 khiến các DN sản xuất bị tác động nặng nề. Vì 2 những lẽ đó, nhóm tác giả đã quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của các doanh nghiệp sống thực vật đến hiệu quả hoạt động của nhóm doanh nghiệp ngành sản xuất tại Việt nam giai đoạn 2017 - 2021” làm đề tài nghiên cứu của mình. Tổng quan nghiên cứu 2.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới Định nghĩa về DNSTV được bắt đầu hình thành vào giữa những năm 1970, được hoàn thiện rõ ràng vào cuối những năm 1980 và trở nên phổ biến trên thị trường tài chính từ năm 2008 (Jiang et al. Các DNSTV được xem như là sự kìm hãm trong việc phát triển của nền kinh tế. Những công ty ít năng suất hơn nên được loại bỏ bởi thị trường. Tuy nhiên, họ vẫn tìm mọi cách để tồn tại như tăng vốn hoặc yêu cầu hỗ trợ bằng các gói trợ cấp của chính phủ.
Đó là lý do chính gây ra nền kinh tế trì trệ ở Nhật Bản vào những năm 1990 (Caballero et al, 2008). Các bài nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tập trung vào hiện tượng của các DNSTV xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ 21 như là một phản ứng đối với sự trì trệ của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 1990 và các vấn đề trong hệ thống tài chính của Nhật Bản (Ahearne & Shinada, 2005; Bruche & Llobet , 2013; Hoshi & Kashyap, 2004; Peek & Rosengren, 2005). Hầu hết các nghiên cứu ban đầu đều liên quan đến hành động của ngân hàng (Broz & Ridzak, 2017; Bruche & Llobet, 2013; Caballero et al., 2008; Kwon, Narita, & Narita , 2015), chỉ ra thực tiễn của các ngân hàng Nhật Bản để cho các công ty phá sản mất khả năng phá sản. Nói chung, kết quả của họ cho thấy sự tồn tại của các công ty nợ nần, không sinh sản này đã ngăn chặn sự phục hồi kinh tế ở Nhật Bản do cản trở sự tăng trưởng của các công ty khỏe mạnh và do đó giảm năng suất cho nền kinh tế nói chung, như được ghi nhận bởi Ahearne và Shinada (2005) et al.
(2008), De Veirman và Levin (2012), Asanuma (2015), Kwon et al. Nghiên cứu của Alan G. Ahearne và Naoki Shinada (2005) cho rằng một yếu tố góp phần vào hoạt động kinh tế yếu kém của Nhật Bản trong thập kỷ qua là các ngân hàng Nhật Bản đã tiếp tục hỗ trợ tài chính cho các công ty nợ nần, kém hiệu quả, thường được gọi là các DNSTV. Các hoạt động kém hiệu quả như vậy sẽ ngăn cản các công ty có tiềm năng phát triển cao hơn giành được thị phần, bóp nghẹt nguồn tăng năng suất quan trọng tiềm tàng đối với nền kinh tế nói chung.
Để hiểu rõ hơn về các DNSTV, bài 3 nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của Nhật Bản từ các ngành công nghiệp có số lượng lớn các DNSTV (ngành xây dựng, bán buôn và bán lẻ) để cung cấp bằng chứng cho thấy tăng trưởng năng suất trong các ngành này rất thấp. Họ lập luận rằng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên DNSTV đấy chính là sự phân bổ không phù hợp của tín dụng ngân hàng, các gói hỗ trợ tài chính từ các ngân hàng Nhật Bản góp phần duy trì sự chênh lệch giữa các công ty trong cùng một thị phần. Peek và Rosengren (2005) lập luận rằng cho vay tín dụng ngân hàng đã được khuyến khích bên ngoài bởi nghĩa vụ quốc gia nhận thức của các ngân hàng để hỗ trợ các công ty gặp rắc rối (để tránh sự gia tăng thất nghiệp và phá sản), và trong trường hợp các ngân hàng yếu về tài chính cố gắng duy trì để duy trì Tỷ lệ vốn cần thiết thông qua giới hạn tăng trưởng trong các khoản vay vấn đề được báo cáo trên bảng cân đối kế toán của họ. Kết quả nghiên cứu của họ cung cấp hỗ trợ thực nghiệm cho các giả thuyết của họ và, như họ đã kết luận, việc phân bổ sai tín dụng ngân hàng đã cản trở sự phục hồi và tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Nhật Bản.
Hoshi và Kashyap (2004) đã chỉ ra các vấn đề lợi nhuận thấp của các ngân hàng Nhật Bản do thiếu lợi nhuận từ các hoạt động cho vay của họ. Các nghiên cứu thực nghiệm đang tìm cách điều tra vấn đề này đã tìm thấy một số nguyên nhân có thể như sự gia tăng lớn của các khoản vay ngân hàng đặc biệt được cung cấp cho các lĩnh vực hoạt động kém, ngày càng có nhiều công ty có khả năng có khả năng thấp đạt được một khoản vay bổ sung (Peek & Rosengren, 2005), và tăng trưởng số lượng các công ty nhận được các khoản vay với lãi suất rất thấp (Caballero và cộng sự.