CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Vốn lưu động trong doanh nghiệp: 1.1 Khái niệm vốn lưu động trong doanh nghiệp: Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tài sản cố định các doanh nghiệp còn cần có các tài sản lưu động (TSLĐ). Để hình thành lên TSLĐ doanh nghiệp cần phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy có thể nói: Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư và hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp.Bùi Văn Vần và PGS.Vũ Văn Ninh, Giáo trình tài chính doanh nghiệp,2015) Hay trong cuốn sách "Kinh tế học ngắn gọn", tác giả N. Gregory Mankiw định nghĩa Vốn lưu động (M1) là tất cả tiền mặt và tiền gửi ngân hàng có thể sử dụng ngay lập tức để mua hàng hoá và dịch vụ.
Tức là, M1 bao gồm tiền mặt và tiền gửi thanh toán ngay (demand deposits) tại các ngân hàng thương mại. Ông cũng đề cập đến khái niệm vốn lưu động rộng hơn- M2 bao gồm cả M1 cộng thêm các khoản tiền gửi thanh toán chậm (time deposits) và các khoản đầu tư như quỹ thị trường tiền tệ (money market mutual funds). M2 thường được sử dụng để đo lường khả năng chi tiêu của người dân và doanh nghiệp trong nền kinh tế. Phân loại vốn lưu động Để quản lý, sử dụng hiệu quả vốn lưu động cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức nhất định.
Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau: (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2015) ❖ Theo hình thái biểu hiện: ➢ Vốn vật tư, hàng hóa: hàng tồn kho nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm. ➢ Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ dự trữ tồn kho, khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong doanh nghiệp. ❖ Theo vai trò của vốn lưu động: 6 ➢ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất ➢ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: vốn bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vốn chi phí trả trước.
➢ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: vốn thành phẩm, vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn, vốn bằng tiền. Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, đảm bảo cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đọa trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. ❖ Ngoài ra, còn phân loại theo nguồn hình thành vốn lưu động: (ThS. Trần Thị Hòa và CN.
Nguyễn Hữu Cúc, Giáo trình tài chính doanh nghiệp, 2014) ➢ Vốn chủ sở hữu là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp; doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, TNHH hay công ty cổ phần. ➢ Nợ phải trả bao gồm nguồn vốn đi vay và nguồn vốn trong thanh toán. Hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu.
và các khoản nợ khách hàng mà doanh nghiệp chưa thanh toán được. Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quy định trong huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hợp lý, hiệu quả hơn. Chu chuyển vốn lưu động: Luân chuyển vốn lưu động (Working Capital Turnover) là sự vận động của vốn có tính chất chu kì, tuần hoàn trong sản xuất kinh doanh.
* Các giai đoạn luân chuyển của vốn lưu động: ❖ Sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất thông qua ba giai đoạn theo trình tự sau: 7 ➢ Giai đoạn 1 (T– H): Vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất là nguyên nhiên vật liệu. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn mua nguyên nhiên vật liệu. ➢ Giai đoạn 2 (H– H’): Vốn lưu động từ hình thái là nguyên nhiên vật liệu chuyển sang hình thái là sản phẩm sản xuất ra. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn sản xuất, chế biến.
➢ Giai đoạn 3 (H’– T’): Vốn lưu động từ hình thái hiện vật là sản phẩm sản xuất ra chuyển sang hình thái là tiền tệ ban đầu. Giai đoạn này gọi là giai đoạn tiêu thụ sản phẩm. ❖ Sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại thông qua hai giai đoạn, theo trình tự sau: ➢ Giai đoạn 1 (T- H): Vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất (hàng hoá). Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn mua hàng.
➢ Giai đoạn 2 (H– T’): Vốn lưu động chuyển hoá từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ ban đầu và kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn lưu động. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn bán hàng. * Tốc độ luân chuyển thể hiện qua các chỉ tiêu số vòng luân chuyển vốn, chỉ rõ trong một kì đang xét nào đó thì vốn lưu động của doanh nghiệp quay vòng được bao nhiêu lần. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng càng cao và ngược lại Số vòng luân chuyển vốn trong kì (n) Trong đó: - D: doanh thu trong kì đang xét (doanh thu bán hàng); - V: lượng vốn lưu động sử dụng tính trung bình trong kì.
* Chỉ tiêu độ dài một vòng quay vốn lưu động: chỉ rõ trung bình một vòng quay của vốn hết bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì vốn lưu động quay vòng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại. Độ dài một vòng luân chuyển vốn (t) 8 Trong đó: - T: thời gian trong kì đang xét tính bằng ngày. Kì là năm thì T = 360 ngày; kì là quí thì T = 90 ngày; kì là tháng thì T = 30 ngày.
- n: số vòng quay vốn trong kì. Quản trị vốn lưu động: 1. Khái niệm quản trị vốn lưu động: Quản trị vốn lưu động được định nghĩa là quản trị tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn và quản trị tài trợ cho các tài sản này (Gill, Biger & Mathur, 2010). Hay là theo Nguyễn Thu Thủy (2011) thì “Quản trị vốn lưu động là việc xây dựng các chính sách vốn lưu động và thực hiện các chính sách ấy trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp”.
Tài sản lưu động chiếm một phần khá lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Quản trị và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều nhân tố, chứ không phải là do quản trị vốn lưu động tồi. Song sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch địch và kiểm soát một cách thích đáng các loại tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đã hầu như chắc chắn là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
Nội dung quản trị vốn lưu động: Một trích dẫn liên quan đến quản trị vốn lưu động từ cuốn sách "Working Capital Management" của James Sagner năm 2010: "Working capital management is the art and science of managing a company's short-term resources to ensure that it is able to continue operating, investing, and growing." (Quản trị vốn lưu động là nghệ thuật và khoa học của việc quản lý các nguồn lực ngắn hạn của một công ty để đảm bảo rằng nó có thể tiếp tục hoạt động, đầu tư và phát triển.) Như vậy là quản trị vốn lưu động liên quan đến quản lý nguồn lực ngắn hạn. Các nguồn lực ngắn hạn lại được hiểu là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Vì vậy nội dung quản trị vốn lưu động được đề cập ở đây bao gồm: vốn bằng tiền, hàng tồn kho và khoản phải thu. Quản trị vốn bằng tiền: Một trong những bộ phận của tài sản ngắn hạn đó là vốn bằng tiền, nó bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Vốn bằng tiền được biết đến là một tài sản có tính thanh khoản cao nhất nhưng lại không sinh lời mà chỉ được sử dụng đầu tư vào những mục đích nhất định. Việc lạm dụng, gian dối, thất thoát là điều dễ xảy ra đối với một tài khoản mà tính thanh khoản lại ở mức cao nhất như này. Vì vậy mà việc quản trị vốn bằng tiền làm sao để cân bằng giữa đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp và tạo ra khả năng sinh lời ở mức tốt nhất là yêu cầu cơ bản cho các nhà quản trị. ❖ Ba nguyên nhân chính cho việc lưu trữ vốn bằng tiền ở doanh nghiệp: ➢ Các yêu cầu giao dịch, thanh toán: tiền hàng, lương, thuế, trả cổ tức, … ➢ Đầu tư hoặc kinh doanh: giúp nắm bắt thời cơ sinh lời, tối đa hóa lợi nhuận.
➢ Dự phòng: xử lý các rủi ro trong kinh doanh. ❖ Quản trị vốn bằng tiền bao gồm các nội dung chủ yếu sau (PGS. Bùi Văn Vần và PGS. Vũ Văn Ninh, 2015): ➢ Xác định đúng đắn mức tiền mặt dự trữ hợp lý, tối thiểu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp.
Cách dự trữ tiền mặt sao cho hợp lý và ở mức tối thiểu đó là làm cho tổng chi phí lưu giữ tiền mặt là nhỏ nhất. Tổng chi phí lưu trữ tiền mặt được hiểu là tổng chi phí cơ hội (việc doanh nghiệp đánh đổi giữa lưu trữ tiền và dùng tiền đầu tư vào mục đích sinh lời khác) và chi phí giao dịch (chi phí liên quan đến việc chuyển đổi tài sản có tính thanh khoản thấp hơn thành tiền mặt). ➢ Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Với mục đích ngăn chặn các hành vi gian dối thì việc quản lý khoản thu chi tiền mặt được coi như một nguyên tắc cần thực hiện chấp hành. Thủ quỹ có nhiệm vụ quản lý, theo dõi, kiểm tra, đối chiếu một cách cẩn thận đối với các chứng từ, sổ quỹ.