Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Trường Mầm non Chim Én Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trường Mầm non Chim Én 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan về các tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu ngoài nước về quản lý tài chính trong các trường công lập Những nghiên cứu về tài chính công được khởi nguồn từ nước ngoài và nó được nhiều học giả công bố. Alan (1979), năm 1979 đã tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”.
Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả nghiên cứu chi tiết. Trong cuốn sách này tác giả cũng đã nêu một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở nước Anh lồng ghép vào nội dung lý thuyết. Cuốn sách của tác giả Holley (2007) cũng mang tên “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” được tái bản lần thứ hai, tác giả đã đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ. Trong những nghiên cứu về tài chính công, khi đưa ra vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề GDCL và tài chính cho GDCL.
Tuy nhiên việc phân tích như vậy chỉ mang tính chất minh họa cho lý thuyết về tài chính công. Hướng nghiên cứu tác nghiệp hơn - quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục. Các công trình nghiên cứu nước ngoài khá rộng và sâu theo hướng này, tác giả của những công trình nghiên cứu này bao gồm những tổ chức và cá nhân. Các nước Mỹ, Anh, Úc, Canada có mô hình giáo dục công khá độc lập giữa các bang hay các vùng.
Một số công trình nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học của Molcolm Prowle và Eric Morgan (2005). Sách nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt về các điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, môi trường gắn với vấn đề quản lý tài 5 chính tại cơ sở giáo dục. Các nước nghiên cứu bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan, Việt Nam. Công trình nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nhà nước trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh của giáo dục mầm non quốc gia trong bối cảnh mới.
Đồng tác giả Marianne, C. và Lesley, A (2000) tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, các phương thức quản lý nguồn lực. Bài báo cũng đi sâu phân tích thực trạng quản lý các nguồn lực giáo dục mầm non, nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục mầm non những yếu tố cản trở việc mở các khu trường học (campus) nước ngoài tại nước sở tại, nghiên cứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũng như những điều cần làm để cải thiện tình hình quản lý tài chính trong giáo dục mầm non. Các nghiên cứu trong nước về quản lý tài chính trong các trường công lập Cải cách GDMN đang rất là cấp bách, cải cách mầm non được Đảng, Nhà nước có chủ trương rõ ràng, nhất quán.
Tuy nhiên, cho tới nay những cải cách thực sự, đặc biệt là các cải cách về cơ chế tài chính vẫn còn nhiều hạn chế trong việc triển khai: Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số: 05/2020/NQ-HĐND ngày 7/7/2020 của HĐND Thành phố Hà Nội về việc quy định mức thu học phí đối với giáo dục mầm non năm học 2020 – 2021 và Nghị quyết số: 18/2022/NQ- HĐND ngày 12/09/2022 của HĐND Thành phố Hà Nội về việc quy định mức thu học phí đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thống công lập của TP. Hà Nội năm học 2022 - 2023, nhưng việc cải cách này còn rất hạn chế và bất cập: Các ngành đào tạo bậc mầm non chỉ được phân loại thành 3 nhóm ngành và áp dụng cùng một mức trần học phí cho tất cả các ngành trong cùng một nhóm ngành. 6 Trong những năm gần đây mỗi năm Việt Nam đầu tư gần 20% ngân sách cho giáo dục, nhưng việc phân bổ ngân sách giáo dục nói chung và ngân sách giáo dục mầm non nói riêng còn rất bất hợp lý, dẫn tới hiệu quả thấp: Phân bổ ngân sách hàng năm cho các cơ sở đào tạo mầm non dựa trên quy mô hoạt động như biên chế trong năm và số học sinh. Cách phân bổ đồng đều này không tạo động lực cho các trường trong việc nâng cao chất lượng.
Như vậy rất cần phải nghiên cứu một chính sách phân bổ ngân sách nhà nước một cách hợp lý và khoa học hơn, nhằm nâng cao tối đa hiệu quả đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục nói chung và GDMN nói riêng. Hiện nay các nhà quản lý giáo dục, xây dựng chính sách cho GDMN rất nhấn mạnh việc tăng cường tự chủ mầm non, đặc biệt là tăng cường tự chủ tài chính cho GDMN để khắc phục những yếu kém của hệ thống giáo dục mầm non hiện nay. Các công trình nghiên cứu trong nước về tài chính trong trường MNCL là tài chính công, hẹp hơn đó là tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu. Xét trên diện ngành là tài chính cho giáo dục và xét theo đơn vị thụ hưởng là tài chính cho một đơn vị cụ thể.
Trong đó có có nhiều nghiên cứu đề cập đến tài chính cho giáo dục khá phong phú, đa dạng. Tác giả Vĩnh Sang (2005) đã phân tích thực trạng về tính bị động và đề xuất các giải pháp tăng tính tự chủ động cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Nhóm tác giả Trần Minh Tá và Bạch Thị Minh Huyền (1996) phân tích khá đầy đủ, đề cập từ những quan điểm, cơ chế, chính sách đến các giải pháp tài chính quốc gia phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Tác giả Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát.
Tác giả đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo mầm non ở Việt Nam, qua đó phân tích thực 7 trạng đầu tư tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí được xây dựng. Chính phủ cũng đã soạn một đề án về phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025, trong đó có đổi mới về cơ chế quản lý tài chính. Nhưng những đổi mới đó mới chỉ dừng lại ở tính chung chung cho các trường, không đi sâu cụ thể từng trường. Như vậy, các công trình nghiên cứu về tài chính cho giáo dục khá đồ sộ, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu vẫn mang tính bao quát cho một cấp giáo dục nhất định, chưa đi sâu phân tích cụ thể từng đơn vị giáo dục.
Nghiên cứu tài chính cho một đơn vị giáo dục ít thu hút được sự quan tâm nhất. Do phạm vi nghiên cứu nhỏ, mang tính đặc thù, có tính chất tác nghiệp tài chính của một đơn vị và do đối tượng độc giả của các công trình nghiên cứu này ít nên không khuyến khích các tác giả tập trung nghiên cứu. Trong số ít các nghiên cứu loại này, Phan Thanh Vụ (2004) đánh giá tổng quan thực trạng để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính ở Đại học Thái Nguyên. Phạm Văn Ngọc (2006),Ở Trường mầm non Chim én quản lý tài chính chỉ được nêu một số báo cáo tại các hội nghị tổng kết, hội nghị CB CNVC- NLD, hội thảo về công tác quản lý cơ sở vật chất và đổi mới cơ chế tài chính ở cấp trường, nhưng vẫn chưa có những báo cáo mang tính chất của một đề tài nghiên cứu, hoặc đưa ra được những giải pháp quản lý tài chính nhằm nâng cao chất lượng đào tạo mang tính khoa học và duy trì bền vững chất lượng đào tạo.
Tác giả Lê Thị Quỳnh Trang (2021) với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính các trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”, trong luận văn của mình, tác giả đã trình bày các nội dung sau: Thứ nhất: Thực hiện tự chủ tài chính, các trường mầm non xây dựng đề án về vấn đề xây dựng phương án thu học phí trên nguyên tắc “thu đủ bù chi”. Ngoài ra, thực hiện các phương án tuyển sinh bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo trong chương trình giáo dục. 8 Thứ hai: Về chất lượng đội ngũ giáo viên cần hoàn thiện các tiêu chuẩn về chất lượng đối với đội ngũ giáo viên, chuẩn/tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục. Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo chuẩn/tiêu chuẩn ban hành, theo đó xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn; xây dựng lộ trình tinh giản biên chế những giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục không có khả năng đạt chuẩn.
Thứ ba: Về cơ sở vật chất cần có kế hoạch cụ thể chú trọng tới cơ sở vật chất tại các trường giáo dục mầm non thành phố Thái Nguyên bởi chất lượng cơ sở vật chất ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục. Thứ tư: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý giáo dục. Tổ chức quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục và đào tạo, các trường để tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý phong phú, có chất lượng tốt. Thứ năm: Tăng cường công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục từ đó mở thêm các cơ sở giáo dục để phục vụ nhu cầu đào tạo trẻ thuận tiện và đem lại hiệu quả cao.