mở đầu quan trọng mang ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình quản lý tài chính trong tổ chức. Do đó, lập dự toán thi - chi ngân sách nhà nước là cơ sở thực hiện và dẫn dắt toàn bộ quá trình thực hiện quản lý tài chính của cơ quan, đơn vị. Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ tài chính và hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên; căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và dự kiến cho năm kế hoạch; căn cứ vào các định mức, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của nhà nước quy định cơ quan, đơn vị lập dự toán thu và dự toán chi tài chính theo đúng chế độ quy định. Thực hiện dự toán NSNN trong các cơ quan hành chính nhà nước Trong quá trình thực hiện dự toán, các cơ quan, đơn vị tuyệt đối chấp hành dự toán thu chi tài chính hành năm đã được duyệt theo chế độ chính sách của Nhà nước và toàn bộ các khoản thu chi trên thực tế phải được căn cứ trên các văn bản quy định pháp luật có liên quan và dựa trên cơ sở cân đối giữa thu và chi.
Các cơ quan, đơn vị phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện chi qua kho bạc nhà nước đối với các khoản kinh phí thuộc NSNN và được mở 14 tài khoản tại ngân hàng hoặc tại kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu thi của các hoạt động khác của đơn vị như hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ c. Quyết toán ngân sách nhà nước trong các cơ quan hành chính nhà nước Đây là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý tài chính của các cơ quan, đơn vị. Cuối năm các cơ quan, đơn vị phải tiến hành lập báo cáo kế toán, báo cáo quyết toán thu chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định. Báo cáo quyết toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị phản ánh tổng hợp tính hình tài sản, thu chi và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính tại cơ quan, đơn vị nhằm cung cấp thông tin tài chính của đơn vị giúp cho việc đánh giá tình hình và thực trạng tình hình sử dụng kinh phí của cơ quan, đơn vị.
Kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước Việc kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo sử dụng nguồn lực nhà nước một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước a. Hình thức kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính, bao gồm: (1) Kiểm tra nội bộ: Là một hoạt động quan trọng trong quản lý tài chính nhà nước, được thực hiện bởi các bộ phận, đơn vị trong cơ quan hành chính nhà nước nhằm: Đảm bảo việc tuân thủ pháp luật: kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý tài chính nhà nước; Phát hiện sai phạm: phát hiện các sai phạm trong việc quản lý và sử dụng tài chính nhà nước; Ngăn ngừa rủi ro: ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tài chính; Nâng cao hiệu quả quản lý: nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính nhà nước. Kiểm tra nội bộ được thực hiện bởi các bộ phận, đơn vị sau: - Bộ phận kiểm tra: được thành lập trong các cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý tài chính. - Bộ phận kế toán: có trách nhiệm kiểm tra nội bộ về công tác kế toán.
- Bộ phận thanh tra: có trách nhiệm kiểm tra nội bộ về công tác thanh tra. 15 - Các đơn vị chuyên môn khác: có trách nhiệm kiểm tra nội bộ về lĩnh vực, hoạt động do mình phụ trách. (2) Thanh tra: Được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước, gồm có: - Thanh tra Chính phủ: cơ quan thanh tra cao nhất của Nhà nước. - Thanh tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ: thanh tra các cơ quan hành chính nhà nước thuộc phạm vi quản lý của mình.
- Thanh tra các cơ quan nhà nước khác: thanh tra các đơn vị trực thuộc và các đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật. (3) Kiểm toán: Được thực hiện bởi cơ quan kiểm toán nhà nước nhằm: Xác nhận tính đúng đắn, hợp lý của các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo thu, chi ngân sách nhà nước và các tài liệu, số liệu liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính nhà nước, tài sản công; Đánh giá việc tuân thủ pháp luật về quản lý tài chính nhà nước, tài sản công của các cơ quan, đơn vị được kiểm toán; Phát hiện vi phạm pháp luật về quản lý tài chính nhà nước, tài sản công; kiến nghị biện pháp xử lý vi phạm và khắc phục hậu quả; Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính nhà nước, tài sản công. Phân loại kiểm toán: Kiểm toán thường xuyên: được thực hiện định kỳ hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Kiểm toán chuyên đề: được thực hiện đối với một lĩnh vực, hoạt động, dự án, chương trình cụ thể theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Nội dung kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính bao gồm: - Kiểm tra việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự toán ngân sách: đảm bảo dự toán được lập đúng quy định, phù hợp với khả năng thu, chi ngân sách và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiểm tra việc thanh quyết toán ngân sách: đảm bảo chi ngân sách đúng mục đích, đúng quy định và tiết kiệm. - Kiểm tra việc quản lý tài sản công: đảm bảo tài sản công được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bảo quản tốt. - Kiểm tra việc thu, nộp ngân sách nhà nước: đảm bảo thu đủ, thu đúng và nộp ngân sách nhà nước kịp thời. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính nhà nước Công tác tài chính tại cơ quan hành chính nhà nước có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý, xét đến khía cạnh nguyên nhân tác động đến cơ chế và việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ta có thể nhận thấy có 02 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp công tác quản lý tài chính đó là: Nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài; trong đó, nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến cơ chế và chính sách quản lý nhà nước đối với vấn đề tự chủ tài chính của cơ quan hành chính nhà nước; nhân tố bên trong là nội tại của cơ quan hành chính đó, cụ thể: 1.
Nhân tố bên ngoài Các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước và sự nhận thức trong từng giai đoạn trong quá trình đổi mới cơ chế chính sách là yếu tố vô cùng quan trọng. Trong những năm qua, Nhà nước luôn coi trọng phát triển nền hành chính, đẩy mạnh cơ chế quản lý tài chính nói riêng và cải cách nền hành chính nói chung. Điều đó được thể hiện ở việc ban hành các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; qua đó, cơ chế quản lý đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Chính sách kinh tế - xã hội là hệ thống các chủ trương, biện pháp mà Nhà nước ban hành nhằm tác động đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế,.
nhằm mục tiêu phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Chính sách kinh tế - xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện và bền vững của đất nước. Các chính sách kinh tế - xã hội mang tính định hướng, vạch ra đường hướng phát triển cho đất nước trong một thời gian nhất định, giúp cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thể phối hợp và tập trung nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung. Cơ chế quản lý tài chính phù hợp sẽ giúp hoạt động tài chính Hoạt động hiệu quả, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài chính; Đảm bảo an toàn tài chính, phòng ngừa rủi ro tài chính; Minh bạch và công khai, đảm bảo sự giám sát của người dân và các cơ quan chức năng.
Ngược lại, cơ chế quản lý tài chính không phù hợp sẽ dẫn đến lãng phí tài nguyên, thất thoát ngân sách; tham nhũng, tiêu cực; hoạt động tài chính không hiệu quả, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhân tố bên trong Nội tại nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước là sự nhận thức và trình độ của người quản lý trong đơn vị. Việc thực hiện cơ chế tự chủ phải thực sự đem lại lợi ích trong công tác quản lý tài chính, mang lại lợi ích cho người lao động. Khi nhận thức được vấn đề thì khả năng mang lại hiệu quả trong công tác quản lý tài chính được nâng cao bởi nó gắn liền với lợi ích của người lao động.
cụ thể: (1) Hệ thống pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài chính tại cơ quan hành chính nhà nước. Hệ thống pháp luật xác định khuôn khổ pháp lý, quy định các nguyên tắc, quy định, tiêu chuẩn và thủ tục liên quan đến hoạt động quản lý tài chính. Ví dụ: Luật Ngân sách nhà nước: quy định về việc lập, dự toán, thu, chi ngân sách nhà nước; Luật Quản lý tài sản công: quy định về việc quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Đấu thầu: quy định về việc tổ chức đấu thầu trong hoạt động mua sắm công. (2) Hệ thống quản lý tài chính: Hệ thống quản lý tài chỉnh hiệu quả giúp huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính, đảm bảo cân đối ngân sách, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn tài chính, đảm bảo an toàn tài chính, minh bạch và công khai, nâng cao trách nhiệm giải trình; Hệ thống quản lý tài chính không hiệu quả: dẫn đến lãng phí tài nguyên, thất thoát ngân sách, tham nhũng, tiêu cực, hoạt động tài chính không hiệu quả.