CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CỦA NƯỚC TA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Do tính cấp thiết của vấn đề QLTC tại CQHCNN nên từ trước đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề QLTC công nói chung và QLTC tại CQHCNN nói riêng. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau đây. Tình hình nghiên cứu: (1) Phạm Văn Hùng (2012).
Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Cục Viễn thông Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân. Nghiên cứu này tập trung vào hoàn thiện cơ chế QLTC của Cục Viễn Thông Việt Nam. Luận văn chỉ ra rằng nên tăng cường việc giao tự chủ tài chính cho đơn vị, huy động và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực, ngoài ra còn phải đẩy mạnh cải cách hành chính công, công khai minh bạch các thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cán bộ lĩnh vực tài chính kế toán thì công tác quản lý kiểm tra, thanh tra, giám sát quy trình QLTC theo quy định của pháp luật, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nghiên cứu đã cung cấp một bức tranh tổng thể về quy trình QLTC tại đơn vị, những hạn chế trong công tác QLTC tại đơn vị và những đề xuất để hoàn thiện cơ chế QLTC. Quản lý chi thương xuyên NSNN tại Cục Hải quan tỉnh Điện Biên. Luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân. (3) Bạch Thị Nhung (2014) Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại trường Cao đẳng sư phạm Hưng Yên.
(4) Nguyễn Thị Hồng Yến (2013) Hoàn thiện công tác quản lý tài chính, tài sản đối với các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc thành ủy Hải 6 Phòng. Tác giả đã nêu lên thực trạng công tác QLTC tại thành ủy Hải Phòng. Từ đó đưa ra những khuyến nghị để hoàn thiện QLTC tại đơn vị. Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến QLTC, đề cập đến nhiều khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn về QLTC.
Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu cơ chế QLTC tại Chi cục Dân số - KHHGĐ Nghệ An. Chính vì vậy, tác giả có thể tin tưởng rằng với công trình nghiên cứu của mình tác giả sẽ có những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn về cơ chế QLTC tại CQHCNN nhằm hoàn thiện cơ chế QLTC tại Chi cục Dân số - KHHGĐ Nghệ An. Những vấn đề chung về cơ quan hành chính Nhà nước và tài chính trong cơ quan hành chính Nhà nước 1. Khái niệm và đặc điểm của cơ quan hành chính Nhà nước 1.
Khái niệm cơ quan hành chính Nhà nước CQHCNN là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính. Nhiệm vụ của các cơ quan này là thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành trên lãnh thổ hay trong từng ngành, từng lĩnh vực. CQHCNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo hai hướng: thứ nhất, ban hành các văn bản pháp quy nhằm hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; thứ hai là chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của các CQHCNN dưới quyền và các đơn vị cơ sở khác thuộc thẩm quyền. Như vậy: “CQHCNN là một dạng cơ quan nhà nước, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước về mọi mặt của đời sống xã hội thông qua hoạt động chấp hành và điều hành, có thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ chức năng do luật định”.
CQHCNN Việt Nam được tổ chức theo các ngành và các cấp từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ Việt Nam. CQHCNN ở cấp trung ương bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, trong đó có Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. 7 CQHCNN ở địa phương là các UBND các cấp, tương ứng với mỗi cấp có một cấp UBND. CQHCNN là một loại cơ quan nhà nước được thành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
CQHCNN là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước. Đặc điểm của cơ quan hành chính Nhà nước Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, khi phân tách rõ các cơ quan Nhà nước cho phép phân cấp quản lý, phân quyền trách nhiệm chặt chẽ quyết định cho hiệu quả của khu vực công. Đặc biệt sự khác nhau về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan nên công tác QLTC của Nhà nước tại các đơn vị này tồn lại các nguyên tắc và theo mô hình khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào QLTC tại CQHCNN nên hiểu rõ và cụ thể vai trò CQHCNN có ý nghĩa quan trọng trong định hướng quản lý sau này.
CQHCNN là một bộ phận quan trọng của Nhà nước. Do vậy CQHCNN cũng mang đầy đủ đặc điểm chung của cơ quan Nhà nước như sau: - CQHCNN có quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ luật pháp nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. - Hệ thống CQHCNN có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. - CQHCNN được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao.
- Nguồn nhân sự của CQHCNN là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội khoá 12 về Luật cán bộ công chức. 8 Bên cạnh đó, CQHCNN có những đặc trưng riêng sau: - CQHCNN do Nhà nước thành lập, chịu sự kiểm tra của cơ quan Nhà nước cấp trên lập ra nhằm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước bằng hoạt động chấp hành và điều hành quyền lực của Nhà nước. CQHCNN được quy định có thẩm quyền pháp lý, xuất phát từ quyền lực của Nhà nước. - Các CQHCNN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (quan hệ trực thuộc trên dưới, trực thuộc ngang và quan hệ chéo) tạo thành một thể thống nhất theo thứ bậc mà trung tâm chỉ đạo là Chính phủ nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chấp hành một cách nhất quán, hiệu quả.
Đó là hệ thống bộ máy phức tạp, nhiều đầu mối được biên chế với hạt nhân của hệ thống là công chức. - CQHCNN là cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước bằng phương pháp đơn phương quyết định, phương pháp quyết định một chiều gắn với quyền lực tuyệt đối. Cùng với sự đa dạng của các lĩnh vực xã hội, CQHCNN thực hiện chức năng quản lý trên mọi phương diện, vì vậy nó được tổ chức thành hệ thống các cơ quan quản lý trong từng lĩnh vực. - Hệ thống CQHCNN có nghĩa vụ tổ chức đảm bảo quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân bằng các chương trình kinh tế xã hội phân phối công bằng, hợp lý cho người dân.
- Nguồn kinh phí duy trì hoạt động của CQHCNN chủ yếu từ NSNN. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính Nhà nước Ở Việt Nam, theo Hiến pháp 2013, Hệ thống các CQHCNN gồm có: - Chính phủ - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong đó có Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. - UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND-CQHCNN ở địa phương. 9 Chính phủ: Thủ tướng, các phó thủ trướng, các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ Các Bộ, cơ quan ngang UBND tỉnh và thành bộ, cơ quan thuộc chính phố trực thuộc trung phủ ương UBND huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã UBND xã, phường, thị trấn Sơ đồ 1.
Hệ thống các CQHCNN của Việt Nam Chức năng, nhiệm vụ của CQHCNN Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất: theo Điều 94 Hiến pháp 2013 “Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.” Bộ, cơ quan ngang bộ: là cơ quan của Chính phủ, được thành lập và thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý Nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực. Theo Điều 99 Hiến pháp 2013 thì “ Bộ trưởng, Thứ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ; chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ 10 chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”. Nghị định 36/2012/ NĐ- CP ngày 18/4/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ.
CQHCNN ở địa phương: Theo Điều 114 Hiến pháp 2013:“ Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan hành chính của Hội đồng nhân dân, CQHCNN ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và CQHCNN cấp trên”. Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và UBND. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND: ngày 04/4/2014 nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh; thành phố trực thuốc Trung ương; Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Các CQHCNN thực hiện chức năng hành pháp trên các mặt sau: + Quản lý hành chính Nhà nước về kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng.
+ Quản lý hành chính Nhà nước về tài chính, NSNN, công sản, hoạch toán, kiểm toán, bảo hiểm, tín dụng, v.v… + Quản lý hành chính Nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. + Quản lý hành chính Nhà nước về nguồn lực và phát triển các nguồn lực. + Quản lý hành chính Nhà nước về tổ chức bộ máy hành chính.