Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp công ích giữ vai trò rường cột trong việc vận hành kết cấu hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an sinh xã hội tại Việt Nam. Theo các báo cáo thống kê, toàn quốc có khoảng 196.000 lao động đang làm việc trong khối doanh nghiệp công ích với mức thu nhập bình quân khoảng 7 triệu đồng/người/tháng. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, mạng lưới dịch vụ đô thị được vận hành bởi 22 doanh nghiệp công ích trực thuộc quận, huyện cùng 6 doanh nghiệp nòng cốt cấp thành phố và một số đơn vị tư nhân tham gia xã hội hóa. Dù hàng nghìn tỷ đồng ngân sách nhà nước đã được phân bổ cho các chương trình chiếu sáng, công viên cây xanh, xử lý rác thải và chống ngập úng, chất lượng cung ứng dịch vụ công vẫn tồn tại nhiều bất cập do phương tiện lạc hậu và công nghệ chậm đổi mới.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ thực trạng cơ chế quản lý nhà nước lâu nay chủ yếu dựa vào kiểm soát chi phí đầu vào, định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá cứng nhắc. Phương thức này làm triệt tiêu động lực cải tiến quy trình của doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện các rào cản chính sách hiện hành, từ đó xây dựng khung chính sách quản lý theo sản phẩm đầu ra nhằm trao quyền tự chủ thực chất, thúc đẩy các doanh nghiệp công ích chủ động trang bị và hiện đại hóa công nghệ.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh, với phạm vi thời gian thu thập dữ liệu sâu trong giai đoạn 2010 - 2015. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn công, rút ngắn khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa khối doanh nghiệp địa phương (khoảng 5,3 triệu đồng/người/tháng) so với khối doanh nghiệp trực thuộc Bộ (khoảng 9,7 triệu đồng/người/tháng), đồng thời nâng cao rõ rệt chất lượng sống cho hơn 8 triệu người dân đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế công cộng hiện đại về hàng hóa công cộng và lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện. Hàng hóa công cộng được phân định rõ thành hai nhóm: hàng hóa công cộng thuần túy (sở hữu hai thuộc tính cơ bản là không cạnh tranh và không loại trừ, điển hình như hệ thống đê điều, thoát nước đô thị) và hàng hóa công cộng không thuần túy (dịch vụ có thể phân chia hoặc loại trừ một phần như cấp nước sạch, vận tải hành khách công cộng).

Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng được kế thừa từ bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9000:2000, định nghĩa quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động phối hợp nhằm định hướng, hoạch định, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến liên tục. Điểm đột phá trong khung lý thuyết của tác giả là việc ứng dụng triết lý Kaizen của Nhật Bản kết hợp cùng chu trình PDCA bao gồm 4 giai đoạn nối tiếp: Lập kế hoạch (Plan) - Thực hiện (Do) - Kiểm tra (Check) - Hành động điều chỉnh (Act).

Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra được xác lập là phương thức quản trị không can thiệp sâu vào chi phí đầu vào hay áp đặt định mức vật tư, mà tập trung kiểm soát mức độ thỏa mãn các tiêu chí chất lượng và tính năng của sản phẩm cuối cùng. Chính sách quản lý theo đầu ra tạo động lực trực tiếp để doanh nghiệp chủ động nghiên cứu phát triển (R&D), tối ưu hóa nguồn lực và chuyển từ đổi mới công nghệ ngắt quãng sang cải tiến liên tục hàng ngày.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu hỗn hợp kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp phong phú. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản pháp luật, nghị quyết của Đảng, báo cáo tài chính và báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 - 2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình với cỡ mẫu gồm 2 doanh nghiệp tiêu biểu đại diện cho hai cấp quản lý: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thoát nước Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đại diện cấp Thành phố) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Dịch vụ Công ích Quận 2 (đại diện cấp quận, huyện). Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được lựa chọn vì hai đơn vị này phản ánh rõ nét nhất những xung đột giữa cơ chế quản lý chi phí đầu vào truyền thống và nhu cầu đổi mới máy móc thiết bị phục vụ thoát nước, vệ sinh đô thị.

Tác giả kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp chu trình vận hành tại thực địa và thực hiện phỏng vấn sâu đối với 15 chuyên gia quản lý chính sách, lãnh đạo sở ngành và cán bộ điều hành doanh nghiệp công ích. Lý do lựa chọn phân tích định tính chuyên sâu kết hợp đối sánh thể chế là nhằm làm rõ bản chất các mắt xích chính sách gây nghẽn dòng vốn đổi mới công nghệ, điều mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần khó có thể lượng hóa đầy đủ. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ năm 2014 đến khi hoàn thiện vào năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch lớn về năng suất và thu nhập của người lao động giữa các mô hình quản lý. Dù thu nhập bình quân toàn ngành năm 2014 tăng khoảng 3,1% so với năm 2012, mức lương bình quân tại khối doanh nghiệp công ích thuộc địa phương chỉ đạt 5,3 triệu đồng/tháng, thấp hơn tới 45,3% so với mức 9,7 triệu đồng/tháng tại các đơn vị thuộc các Bộ quản lý. Thực tế này phản ánh năng suất lao động thấp do công nghệ thi công, duy tu thủ công kéo dài.

Thứ hai, cơ chế quản lý chi phí và áp đặt định mức đầu vào tạo rào cản kìm hãm đổi mới kỹ thuật. Gần như 100% các hạng mục duy tu công ích được thanh quyết toán dựa trên định mức vật tư, nhiên liệu và ngày công lao động cũ. Khi doanh nghiệp chủ động đầu tư máy móc hiện đại giúp tiết kiệm nhân lực và thời gian, cơ quan quản lý lại cắt giảm dự toán thanh toán tương ứng. Điển hình như tại dự án nâng cấp đường Lê Văn Quới do Công ty Quản lý Công trình Giao thông Sài Gòn làm chủ đầu tư từ năm 2003, việc quản lý đầu vào xơ cứng đã kéo dài tiến độ hơn 3 năm, dẫn đến việc Ủy ban nhân dân Thành phố phải thu hồi dự án vào năm 2006.

Thứ ba, hiệu quả đầu tư công chưa tương xứng với nguồn vốn ngân sách khổng lồ. Mặc dù hàng nghìn tỷ đồng đã được giải ngân cho hạ tầng thoát nước và hơn 40.000 m2 đất được quy hoạch tại các khu liên hợp xử lý chất thải rắn như Đa Phước, tình trạng ngập úng đô thị vẫn tiếp diễn và chỉ số bụi mịn, ô nhiễm môi trường tại các khu dân cư vẫn vượt quy chuẩn từ 2 đến 3 lần.

Thứ tư, mức độ tham gia của khu vực tư nhân còn rất hạn chế. Trong tổng số 28 doanh nghiệp công ích nhà nước của thành phố, phương thức giao kế hoạch và đặt hàng trực tiếp vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo trên 80%, trong khi tỷ lệ dịch vụ công được đưa ra đấu thầu rộng rãi nhằm kích thích cạnh tranh công nghệ chỉ chiếm khoảng dưới 20%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua Biểu đồ cột thể hiện tương quan chênh lệch thu nhập và năng suất lao động giữa các nhóm doanh nghiệp công ích, kết hợp Bảng ma trận so sánh chi tiết giữa cơ chế kiểm soát đầu vào truyền thống và cơ chế nghiệm thu sản phẩm đầu ra theo chuẩn ISO 9000.

Nguyên nhân cốt lõi của sự trì trệ công nghệ không nằm ở sự thiếu hụt vốn đơn thuần, mà nằm ở triết lý quản lý hành chính bao cấp còn sót lại. Khi cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng điều hành vi mô của doanh nghiệp bằng cách kiểm soát từng lít dầu, giờ công máy móc, doanh nghiệp bị tước bỏ quyền tự chủ công nghệ và triệt tiêu động lực áp dụng các sáng kiến Kaizen. So sánh với các nghiên cứu của các tác giả cùng thời kỳ về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, điểm khác biệt mang tính quyết định của khối công ích là thị trường mang tính độc quyền tự nhiên và cơ chế bù lỗ.

Do đó, nếu không chuyển đổi triệt để sang phương thức quản lý theo kết quả đầu ra dựa trên các tiêu chí định lượng về độ sạch của đường phố, độ thông thoáng của cống rãnh hay tỷ lệ chiếu sáng liên tục, các gói hỗ trợ thuế hay vốn vay ưu đãi cũng không thể kích hoạt được làn sóng hiện đại hóa máy móc tại các doanh nghiệp công ích.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính khả thi cao nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuyển giao quyền tự chủ công nghệ cho doanh nghiệp. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì ban hành quy chế quản lý dịch vụ công ích theo tiêu chuẩn sản phẩm đầu ra, xóa bỏ triệt để việc can thiệp vào định mức chi phí nội bộ. Mục tiêu cụ thể là cắt giảm tối thiểu 30% các thủ tục hành chính phê duyệt định mức kỹ thuật trong giai đoạn 2016 - 2018, cho phép doanh nghiệp tự quyết định phương án công nghệ thi công.

Thứ hai, thành lập Quỹ đầu tư đổi mới công nghệ công ích đô thị. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố cho phép trích lập từ 5% đến 10% lợi nhuận sau thuế hàng năm của 28 doanh nghiệp công ích để tái đầu tư vào nghiên cứu thực nghiệm, mua sắm máy móc cơ giới hóa chuyên dùng, bắt đầu triển khai đồng loạt từ quý 1 năm 2017.

Thứ ba, mở rộng quy mô đấu thầu công khai và minh bạch hóa thị trường dịch vụ công. Sở Giao thông Vận tải phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường nâng tỷ lệ đấu thầu cạnh tranh các gói thầu thu gom rác, nạo vét kênh rạch, duy tu chiếu sáng đô thị lên mức 50% vào năm 2018 và đạt trên 70% vào năm 2020, tạo môi trường bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình quản trị nội bộ theo Kaizen và hệ thống ISO 9001. Ban giám đốc các công ty dịch vụ công ích quận huyện và thành phố bắt buộc áp dụng chu trình PDCA và bộ chỉ số đo lường hiệu suất (KPI) cho từng bộ phận, cam kết giảm tỷ lệ lãng phí năng lượng và chi phí vận hành từ 15% đến 20% trong vòng 24 tháng kể từ khi áp dụng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác xây dựng đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi cơ chế cấp phát ngân sách từ bao cấp chi phí sang đặt hàng theo chất lượng nghiệm thu cuối cùng.

Nhóm thứ hai là Hội đồng thành viên và Ban Tổng giám đốc các doanh nghiệp công ích đô thị (thoát nước, cây xanh, chiếu sáng, môi trường). Tài liệu đóng vai trò như cẩm nang tái thiết quy trình sản xuất, giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm vững phương pháp áp dụng triết lý Kaizen, xác định cấu trúc đầu tư máy móc phù hợp và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị công, Kinh tế công cộng. Công trình là nguồn tài liệu quý báu về phương pháp tiếp cận nghiên cứu trường hợp, hệ thống hóa lý thuyết hàng hóa công cộng và mô hình hóa chính sách công.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân đang có định hướng mở rộng đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng xã hội và dịch vụ đô thị. Luận văn giúp khối tư nhân thấu hiểu bức tranh thể chế, các rào cản kỹ thuật và tiềm năng hợp tác công - tư (PPP) khi thị trường dịch vụ công ngày càng mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý theo sản phẩm đầu ra khác gì so với quản lý chi phí đầu vào truyền thống trong dịch vụ công ích? Phương thức truyền thống kiểm soát chi tiết các yếu tố vật tư, số lượng nhân công và áp đặt định mức đơn giá cứng nhắc, gây triệt tiêu động lực tiết kiệm. Ngược lại, quản lý sản phẩm đầu ra trao quyền tự chủ tuyệt đối cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn công nghệ và bố trí nguồn lực, nhà nước chỉ đóng vai trò nghiệm thu chất lượng theo các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể.

Tại sao các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh trước đây lại chậm đổi mới công nghệ? Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế giao kế hoạch bao cấp và kiểm soát chi phí đầu vào. Khi doanh nghiệp đầu tư thiết bị tự động hóa giúp giảm nhân công, cơ quan quản lý sẽ cắt giảm dự toán thanh toán tương ứng. Do đó, việc duy trì quy trình thủ công lạc hậu lại mang lại nguồn ngân sách an toàn hơn cho đơn vị.

Triết lý Kaizen phát huy hiệu quả ra sao trong hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đô thị? Kaizen tập trung vào việc huy động mọi nhân viên liên tục thực hiện các cải tiến nhỏ hàng ngày theo chu trình PDCA 4 bước. Phương pháp này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa máy móc hiện có, loại bỏ lãng phí nhiên liệu, nâng cao độ an toàn lao động trước khi thực hiện các dự án mua sắm công nghệ lớn có chi phí đắt đỏ.

Chuyển đổi sang cơ chế quản lý đầu ra có làm tăng gánh nặng chi phí dịch vụ đối với người dân không? Cơ chế quản lý đầu ra kết hợp đấu thầu cạnh tranh giúp giảm chi phí lãng phí ngân sách từ 15% đến 20%, nâng cao chất lượng môi trường sống mà không làm tăng giá vé hay phí dịch vụ công, bởi nhà nước thanh toán dựa trên hiệu quả thực tế thay vì bù lỗ cho các chi phí phát sinh vô lý.

Nghiên cứu điển hình tại Công ty Thoát nước Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh mang lại bài học thực tiễn gì? Trường hợp này chứng minh rằng việc rót hàng nghìn tỷ đồng ngân sách nhưng duy trì cơ chế đặt hàng khép kín sẽ không giải quyết được vấn nạn ngập úng. Doanh nghiệp cần được tự chủ tài chính để chủ động mua sắm thiết bị cơ giới hóa hiện đại và chịu trách nhiệm trực tiếp về mức độ thông thoát nước trên địa bàn.

Kết luận

  • Luận văn đã luận giải sâu sắc mối quan hệ hữu cơ giữa chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và động lực đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công ích đô thị.
  • Đóng góp khoa học then chốt là việc vận dụng thành công mô hình quản lý chất lượng ISO 9000 kết hợp triết lý Kaizen để giải quyết triệt để điểm nghẽn của phương thức quản lý định mức đầu vào truyền thống.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng năng suất, chênh lệch thu nhập và rào cản công nghệ tại 28 doanh nghiệp công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2015.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế tự chủ, thành lập quỹ đổi mới công nghệ đến mở rộng đấu thầu cạnh tranh minh bạch với lộ trình cụ thể đến năm 2020.
  • Khẳng định nâng cao hiệu quả quản trị công ích là tiền đề trọng yếu để bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng môi trường đô thị văn minh và phát triển kinh tế bền vững.

Các cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp công ích hãy nghiên cứu, ứng dụng ngay khung chính sách quản lý theo sản phẩm đầu ra để khơi thông nguồn lực, bứt phá công nghệ và nâng tầm chất lượng dịch vụ đô thị ngay hôm nay.