chương 1, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển sản phẩm mới của liên minh chiến lược bằng cách kiểm định thông qua các nghiên cứu, số liệu thống kê trên thực tế. Từ đó, đề tài chỉ ra rằng sự ảnh hưởng của năng lực thăm dò và khai thác là hai yếu tố tác động chính đến kết quả của sự phát triển sản phẩm mới trong liên minh chiến lược. Việc này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị phân định rõ hơn các nhân tố ảnh hưởng lớn trong liên minh chiến lược góp phần tạo ra sự thành công của việc phát triển sẩn phẩm mới. Giúp nhà quản trị thiết lập các giá trị của năng lực thăm dò và khai thác phù hợp theo mong muốn để tác động tích cực hơn đến sự phát triển của liên minh chiến lược trong việc thúc đẩy phát triển sản phẩm mới.
Từ đó, có thể đề xuất và kiến nghị các giải pháp dựa trên các yếu tố đã tìm ra đư ợc để cung cấp những phương pháp, điều kiện, công cụ hỗ trợ cho phù hợp giúp việc hợp tác trong liên minh chiến lược phát triển sản phẩm mới đạt được kết quả tốt nhất theo mong đợi. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm chính liên quan 2. Liên minh chiến lược Liên minh chiến lược được định nghĩa là các thỏa thuận hợp tác giữa các công ty nhằm tạo ra giá trị cho các bên liên quan bằng cách tạo ra lợi thế cạnh tranh và cung cấp sự hiệp lực thông qua việc chia sẻ nguồn lực, năng lực, kỹ năng, kiến thức và rủi ro bằng cách phối hợp giữa các tổ chức, phối hợp danh mục đầu tư liên minh, học hỏi giữa các tổ chức, tính chủ động của liên minh và chuyển đổi liên minh (Schilke và Goerzen, 2010).
Ngoài ra, theo Kohtamäki và cộng sự (2018) liên minh chiến lược được định nghĩa là năng lực của doanh nghiệp trong việc quản lý các mối quan hệ kinh doanh chiến lược bằng cách sử dụng các quy trình thích hợp, chẳng hạn như thiết lập mục tiêu của liên minh, thực hiện nhiệm vụ và đánh giá để đạt được lợi ích chung. Liên minh chiến lược được phân loại căn cứ vào chức năng liên minh như liên minh toàn diện, nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất, thị trường (marketing), tài chính; các loại liên minh chiến lược căn cứ vào yếu tố vốn như liên minh không góp vốn (non-equity alliances), có góp vốn (equity alliances); ngoài ra, còn các loại liên minh căn cứ vào mức độ bền vững như liên minh tạm thời, liên minh bền vững (Cao Minh Trí và Lê Vũ Linh Toàn, 2020). Liên minh chiến lược là sự kết hợp các nguồn lực, năng lực và năng lực cụ thể và chiến lược giữa các công ty để đáp ứng các mục tiêu cụ thể như thâm nhập thị trường mới, phát triển các dòng sản phẩm phong phú hơn, hiểu biết về năng lực mới, thu thập doanh thu để tài trợ cho R&D, sản xuất chi phí hoặc chi phí tiếp thị (Subramanian và cộng sự, 2018; Robson và cộng sự, 2019). Một liên minh chiến lược là rất quan trọng, bởi vì nó cho phép các công ty (1) tiếp cận nhanh chóng với công nghệ, thông tin và kỹ năng mới vượt ra khỏi ranh giới của tổ chức, (2) đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô bằng cách tập hợp tài sản và nguồn lực, (3) chia sẻ rủi ro với chi phí đắt đỏ các dự án mà các công ty không thể tự chi trả, (4) quản lý sự phụ thuộc lẫn nhau của 11 công ty và (5) chia sẻ kiến thức chiến lược với các đối tác (Mitsuhashi, 2002; Shakeri và Radfar, 2017).
Tỉ lệ hình thành liên minh trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể (Leischnig và cộng sự, 2014). Bằng cách hình thành liên minh với các công ty đối tác, các DNVVN củng cố lợi thế cạnh tranh của họ, cho phép họ cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn hơn với nguồn lực, kỹ năng và năng lực ngày càng tăng và phạm vi địa lý do liên minh tạo điều kiện (Franco và Haase, 2016; O'Dwyer và Gilmore, 2018). Nghiên cứu của Nielsen và Gudergan (2012); Li và Wang (2019); Ferreira và cộng sự (2021a) nói về chia sẻ nguồn lực, năng lực, kỹ năng, kiến thức và rủi ro bằng cách phối hợp giữa các doanh nghiệp trong liên minh chiến lược và học hỏi giữa các tổ chức, tính chủ động của liên minh và chuyển đổi liên minh, các nghiên cứu trên có sử dụng các chỉ báo của (Schilke và Goerzen, 2010). Vì vậy, tác giả cũng kế thừa và sử dụng các chỉ báo của (Schilke và Goerzen, 2010) để làm chỉ báo cho nghiên cứu này.
Năng lực thăm dò và khai thác Theo Levinthal và March (1993) mô tả năng lực thăm dò là tìm kiếm cơ hội và “theo đuổi kiến thức, về những thứ có thể được biết đến”. Ngược lại, năng lực khai thác là “việc sử dụng và phát triển những thứ đã biết” và tập trung vào lợi nhuận kinh tế ngắn hạn từ các sản phẩm hoặc kiến thức hiện có. Trong khi khai thác và thăm dò là tiền đề của sự đổi mới và phát triển sản phẩm mới (Hoang và Rothaermel, 2010; Liu và cộng sự, 2019). Hoạt động thăm dò thường có đặc điểm là rủi ro thất bại cao, trong khi việc khai thác liên quan đến sự không chắc chắn, chẳng hạn như sự chấp thuận của chính phủ đối với các sản phẩm mới, doanh số bán hàng yếu hoặc các chiến dịch tiếp thị khó khăn.
Crossan và cộng sự (1999) và Fischer và cộng sự (2010) đã khái niệm hóa các năng lực thăm dò và khai thác là các năng lực động, vì chúng có năng lực hình thành phản ứng với nhu cầu hoặc cơ hội thay đổi. Ngoài việc được coi là các năng lực năng động cho phép các công ty thích nghi với môi trường của họ theo thời gian, năng lực thăm dò và khai thác đã 12 được nghiên cứu dưới tác động của một số khía cạnh của môi trường doanh nghiệp (Jansen và cộng sự, 2006; Bernal và cộng sự, 2019). Khai thác: Mục tiêu của việc khai thác là để tinh chỉnh và mở rộng các kỹ năng, thói quen và năng lực của tổ chức (Auh và Menguc, 2005). Các thói quen được tinh chỉnh dựa trên kinh nghiệm và kiến thức hiện có (Baum và cộng sự, 2000) để tăng hiệu quả, giảm phương sai, các hoạt động giải quyết vấn đề có tính kỉ luật (Smith và cộng sự, 2005) và cuối cùng đạt được sự đổi mới gia tăng (Andriopoulos và Lewis , 2009).
Về mặt học hỏi trong doanh nghiệp, khai thác phụ thuộc vào những phát triển mới dựa trên kiến thức hiện có được thay đổi bởi học tập trải nghiệm của doanh nghiệp (Lavie và cộng sự, 2011; Teece và cộng sự, 1994). Đầu tiên, các quy trình và cấu trúc được cải thiện và do đó hạn chế được tình trạng dư thừa, khi các hoạt động được thiết kế để đạt được hiệu quả và hiệu quả hơn, ví dụ, sản xuất nhanh hơn hoặc chất lượng tốt hơn (He và Wong, 2004). Thứ hai, việc thử nghiệm rủi ro để tránh được thất bại kinh doanh tiềm ẩn vì kiến thức hiện có được dựa vào nhiều hơn (Katila và Ahuja, 2002; Camisón và cộng sự, 2018). Nhờ đó các doanh nghiệp có thể tiêu chuẩn hóa và nâng cao công nghệ, năng suất và hiệu quả được cải thiện (Nielsen, 2010).
Thăm dò: Thăm dò được định nghĩa là một loại hình học tập phát triển thông qua “sự thay đổi được phối hợp, thử nghiệm kiểm thử có kế hoạch” (Baum và cộng sự, 2000). Thăm dò tuân theo một sự hợp lý hoàn toàn không giống như khai thác bằng cách khuyến khích thử nghiệm với nhiều kiến thức đa dạng (Andriopoulos và Lewis, 2009). Tóm lại, tìm kiếm cơ hội mới với tầm nhìn tương lai, cũng như kiến thức và kinh nghiệm mới, không chắc chắn và tốn thời gian hơn khai thác (March, 1991), nhưng có thể mang lại “cải tiến và đổi mới sản phẩm” (Nielsen, 2010). Cái gọi là năng lực hấp thụ này cho phép một công ty phát triển sớm các năng lực đổi mới và làm cho nó linh hoạt hơn trong việc ứng phó với những thay đổi của môi trường (Lavie và cộng sự, 2011).
Theo March (1991), bản chất của việc thăm dò là thử nghiệm các giải pháp thay thế mới giúp hoàn thiện cấu trúc đổi mới và phát triển mới trong doanh nghiệp. 13 Ngoài ra khái niệm của Levinthal và March (1993) về năng lực thăm dò và khai thác còn được sử dụng để xây dựng các chỉ báo cho nghiên cứu của (Yalcinkaya và cộng sự, 2007), để khẳng định năng lực thăm dò và khai thác có tác động tích cực đến đổi mới sản phẩm và năng cao khả năng tiếp cận thị trường. Bên cạnh đó các nghiên cứu của (Nielsen và Gudergan, 2012; Zhang và Wu, 2017; Ferreira và cộng sự, 2021a, Ferreira và cộng sự, 2021b) cũng sử dụng các chỉ báo của (Yalcinkaya và cộng sự, 2007), được phát triển từ khái niệm của Levinthal và March (1993) để nghiên cứu về khả năng thăm đò và khai thác đến đổi mới và phát triển sản phẩm mới. Xét thấy sự phù hợp và đồng nhất của các chỉ báo trong thang đo của nghiên cứu (Zhang và Wu, 2017) về năng lực thăm dò và khai thác được phát triển bởi (Yalcinkaya và cộng sự, 2007) từ khái niệm của Levinthal và March (1993).
Vì vậy, tác giả sử dụng khái niệm của Levinthal và March (1993) và chỉ báo của (Zhang và Wu, 2017) để làm chỉ báo cho nghiên cứu này. Đổi mới và phát triển sản phẩm mới Đổi mới: Năng lực đổi mới giúp các công ty nhanh chóng giới thiệu các sản phẩm mới và áp dụng các quy trình mới. Sau đó, điều quan trọng là cung cấp đầu vào cho một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Theo Adler và Shenbar (1990), năng lực đổi mới được định nghĩa là “(1) năng lực phát triển các sản phẩm mới thỏa mãn nhu cầu thị trường; (2) năng lực áp dụng các công nghệ quy trình thích hợp để sản xuất các sản phẩm mới này; (3) năng lực phát triển và áp dụng các sản phẩm và công nghệ chế biến mới để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai; (4) và năng lực đáp ứng các hoạt động công nghệ ngẫu nhiên và các cơ hội bất ngờ do đối thủ cạnh tranh tạo ra”.
Phát triển sản phẩm mới: Tuy nhiên, để thực hiện đổi mới và phát triển mới các doanh nghiệp phải đảm bảo nguồn tri thức nhất định. Theo Grant (1996), về quan điểm dựa trên tri thức của công ty thì việc duy trì lợi thế cạnh tranh được thực hiện thông qua việc tiếp cận, phát triển, bảo vệ và chuyển giao tri thức.