phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh sách bảng biểu, chữ viết tắt, luận văn được kết cấu thành 03 chương: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh tỉnh Sơn La. - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh tỉnh Sơn La. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng “Tín dụng” xuất phát từ tiếng Latin là Creditium, có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo ngôn ngữ dân gian nước ta thì “tín dụng” được hiểu là sự vay mượn.
Trong nền kinh tế hàng hóa, trong cùng một thời gian luôn phát sinh một số người tạm thời có nguồn vốn nhàn rỗi, dư thừa và một số người có nhu cầu muốn vay vốn, sử dụng vộn. Do vậy làm phát sinh mối quan hệ kinh tế là dự dịch chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu với nguyên tắc đảm bảo hoàn trả đầy đủ gốc lãi sau khoảng thời giansự dụng vốn nhất định. Đây chính là một quan hệ tín dụng Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn. Theo Nguyễn Tất Lê Ngân (2016), tín dụng Ngân hàng bao gồm ba nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính chất tạm thời. - Chi phí sẽ phát sinh kèm sự chuyển nhượng này. Có thể thấy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Đây là quan hệ dịch chuyển vốn thông qua trung gian tài chính là ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với bên đi vay (bao gồm các cá nhân, tổ chức); theo đó tài sản được ngân hàng chuyển giao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 (cụ thể là tiền) cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận; và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.2 Bản chất của tín dụng Về bản chất, tín dụng là một công cụ của NHTM trong vấn đề thực hiện chức năng trung gian tài chính, là nhu cầu tất yếu trong quá trình luân chuyển vốn giữa các thành phần trong nền kinh tế với mục đích: –Đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn vốn tại khu vực dân cư đang nhàn rỗi, trong mỗi hoạt động SXKD của tổ chức, cá nhân, sử dụng ngân sách nhà nước. – Đảm bảo hoạt động luân chuyển vốn diễn ra trơn tru, liên tục trước thực tế chu kỳ luân chuyển vốn không giống nhau giữa các cá nhân, doanh nghiệp, ngành nghề đang cùng vận hành trong một nền kinh tế. – Đáp ứng nhu cầu vốn vay của các công ty, các cá nhân và cả nền kinh tế. Về phương diện kinh tế và nguồn gốc hình thành của việc cho vay, nguồn vốn hình thành của ngân hàng bắt nguồn từ nguồn vốn thuộc sở hữu của Nhà nước, sở hữu của doanh nghiệp và dân cư.
Trong một khía cạnh nào đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng người ngân hàng cho vay đầu tiên chính là cá nhân, tổ chức có nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt. Ở đây NHTM hoạt động như là cầu nối trên thị trường vốn. Trong mối quan hệ này NHTM là con nợ của cá nhân, doanh nghiệp có tiền gửi nhàn rỗi gửi tại NHTM và là chủ nợ của các cá nhân, doanh nghiệp có vay nợ tại Ngân hàng. Như vậy, về bản chất tín dụng NHTM được thể hiện đầy đủ khi tín dụng Ngân hàng thực hiện các chức năng: Chức năng dịch chuyển nguồn vốn, chức năng phát hành, chức năng giám soát hoạt động của các chủ thể nền kinh tế.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm RRTD Trong tài liệu “Công nghệ ngân hàng dành cho các nước đang phát triển”, rủi ro tín dụng được định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Trong bộ “17 nguyên tắc quản trị RRTD” của Ủy ban Basel (ban hành tháng 9/ 2000) có đề cập “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận” Theo tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective”, A.Lange định nghĩa RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng diễn ra, nghĩa là có khả năng các luồng thu nhập đã dự tính tại ngân hàng sẽ khó có thể diễn ra một cách đầy đủ cả về số lượng cũng như thời gian.Koch thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Vấn đề RRTD, quản lý RRTD cần được quan tâm và xem xét đến trong mối tương quan với thay đổi của thị trường tài chính và phương thức quản lý các trung gian tài chính. Như vậy, có thể hiểu RRTD là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, khả năng thanh khoản bị mất gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong quá trình vận hành của NHTM. RRTD sẽ làm giảm khả năng cho vay cũng như các hoạt động có tính chất tín dụng khác như hoạt động thanh toán, bảo lãnh, tài trợ thương mại, LC, cho thuê tài sản… 1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng a, Nguyên nhân khách quan Đây là những nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường tự nhiên - Môi trường kinh tế + Sự biến động mạnh và khó dự đoán của thị trường thế giới: Kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là sản suất nông nghiệp và công nghiệp chế biếnthườngnhạy cảm với dự biến động thất thường của thời tiết, phụ thuộc lớn vào giá cả thế giới và các nền kinh tế các nước nhập khẩu nên rất dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới có những biến động xấu.
Điển hình là việc khống chế hạn ngạch đối với doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 dệt may không những gây ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp mà còn gián tiếp đến hoạt động cho vay của các ngân hàng.Tương tự, một số công ty ngành thủy sản cũng gặp không ít khó khăn khi vướng phải các vụ kiện bán phá giá khi thâm nhập vào các thị trường khó tính như Châu Âu. + Rủi ro cạnh tranh gay gắt từ tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế: Nợ xấu gia tăng một phần do ảnh hưởng của tài chính tự do và hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh khốc liệt khiến nhiều công ty và các ngân hàng đối mặt với thua lỗ. Bên cạnh đó, cũng chính trong ngành ngân hàng cũng diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt ở trong nước và quốc tế cũng dẫn đến việc các ngân hàng với việc quản lý yếu kém về tín dụng sẽ gia tăng nợ có vấn đề một cách nhanh chóng. Bởi lẽ, những khách hàng được đánh giá là tốt và tiềm năng đã được các NHTM nước ngoài chiếm lĩnh.
- Môi trường pháp lý + Cơ quan pháp luật ở địa phương hoạt động chưa thực sự hiệu quả: Hoạt động tín dụng đã được hướng dẫn rất nhiều trong một loạt các luật và văn bản chuyên sâu về việc thực thi pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, luật và các văn bản này được triển khai còn hết sức chậm chạp và còn nhiều vướng mắc về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Trong quá trình phát mại TSBĐ để tiến hành thu hồi nợ xấu còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệtkhó với những tài sản có tranh chấp. Việc đưa ra các cơ quan tố tụng như tòa án qua đường tố tụng thường mất rất nhiều thời gian nên dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được tồn đọng, tài sản tồn đọng.
+ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: Ngoài những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra, giám sát và đảm bảo an toàn hệ thống chưa cải thiện về chất lượng. Nội dung, phương pháp và cách thức thanh tra, giám sát chậm đổi mới theo hướng hiện đại, chưa phát huy hiệu quả vai trò của kiểm toán cũng như việc tổ chức hệ thống thông tin. NHNN chủ yếu vẫn sử dụng cách thức thanh tra tại chỗ nên gặp nhiều khó khăn việc kiểm tra bao quát toàn bộ thị trường tiền tệ cũng như quản trị rủi ro. Thanh tra NHNN chưa chủ động trong việc phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro mà hầu như chỉ xử lý cả vụ việc sau khi đã phát sinh.
Đặc biệt, nhiều sai phạm đến khi có hậu quả mới tiến hành can thiệp, xử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Hàng loạt các sai phạm của một sốNHTM dẫn đến rủi ro lớn và ảnh hưởng đến sự an toàn của toàn hệ thống + Hệ thống thông tin quản lý còn nhiều bất cập: Hiện nay, chưa có một trang thông tin nào có thông tin đầy đủ về các cá nhân, tổ chức. Trung tâm thông tin khách hàng CIC của NHNN đã có từ rất lâu và đem lại những hiệu quả nhất định trong việc cung cấp kịp thời về tình hình tín dụng của khách hàng nhưng chưa đánh giá được mức độ tín nhiệm doanh nghiệp một các hiệu quả và độc lập.