CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUỸ NGHIÊN CỨU CƠ BẢN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu Xianrong YE (2012) với bài nghiên cứu “Preliminary exploration of special fund management for basic research” đã phân tích về Quản lý Quỹ nghiên cứu đặc biệt tại các Viện nghiên cứu phi lợi nhuận Trung ương. Tác giả đã tìm hiểu các biện pháp trong việc tổ chức, thiết kế, thực hiện và cấp vốn cho dự án và kích thích nhân sự. Chất lượng nhân sự, công nghệ và các kỷ luật được quản lý chặt chẽ nằm trong sự hỗ trợ lâu dài ổn định của quỹ là điều cần thiết.
Zhifeng Yin và cộng sự (2018) trong bài nghiên cứu “Does the concentration of scientific research funding in institutions promote knowledge output?” đã chỉ ra nghiên cứu cơ bản là sức mạnh chính của tiềm năng tăng trưởng kinh tế liên tục của một quốc gia và kinh phí nghiên cứu khoa học cấp quốc gia là nguồn vốn quan trọng hỗ trợ cho nghiên cứu cơ bản này. Các tác giả đã nghiên cứu các dự án được tài trợ bởi Vụ Khoa học Quản lý trong Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc từ năm 2006 đến năm 2010 để xem xét mối quan hệ giữa việc sử dụng hiệu quả kinh phí nghiên cứu và mức tài trợ tập trung trong các cơ quan nghiên cứu nhất định. Ngược lại với những tác động bên ngoài tích cực được tạo ra bởi sự tập trung của các hoạt động R&D, nghiên cứu của chúng tôi phát hiện ra rằng việc tích lũy kinh phí nghiên cứu khoa học ở cấp cơ sở có mối tương quan nghịch với sản lượng kiến thức của các điều tra viên chính của các dự án trong cơ sở nghiên cứu. Từ đó, họ thảo luận về một số hàm ý chính sách.
Bài viết “Quỹ khoa học Thái Lan: Nằm ngoài sự quản lý hành chính của Chính phủ” của tác giả Thu Quỳnh dịch (2012) đã chỉ rõ: Quỹ nghiên cứu khoa học Thái Lan (TRF) ra đời sau khi có Luật Hỗ trợ nghiên cứu từ năm 1992. Về mặt pháp lý, quỹ thuộc hệ thống Chính phủ nhưng lại nằm ngoài sự quản lý hành chính của Chính phủ, sự tự do này tạo ra điều kiện lý tưởng để hỗ trợ nghiên cứu. Mục đích của Quỹ này 4 nhằm giúp tạo dựng một hạ tầng cơ sở mạnh cho khoa học Thái Lan. Chính sách, ngân quỹ, công tác phí, các viện nghiên cứu, nghiên cứu viên, và văn hóa nghiên cứu đều là những lĩnh vực mà Quỹ cần chú trọng.
Sự phát triển yêu cầu củng cố đầu tư cho nghiên cứu cả về chất lượng và số lượng. Nội dung chính của bài viết chỉ phân tích tính độc lập của Quỹ khoa học ở Thái Lan nhưng lại chưa đi sâu phân tích về cách thức quản lý quỹ. Luận án tiến sĩ của Lê Văn Đức, (2019) về chủ đề “Quản lý NSNN đầu tư cho các quỹ phát triển KH&CN ở Việt Nam” đã đặt việc quản lý quỹ phát triển KH&CN dưới chức năng quản lý NSNN. Coi đó là hoạt động đầu tư công.
Vì thế, khung lý luận được xây dựng là về quản lý NSNN chứ không đặt ra vấn đề nghiên cứu quản lý Quỹ một cách toàn diện cả về tài chính và hoạt động của quỹ. Từ kết quả phân tích thực trạng, tác giả đề xuất giải pháp cho việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia như: (1) hoàn thiện cơ chế hình thành nguồn để đảm bảo vốn cấp ban đầu và nguồn bổ sung hàng năm của Quỹ, (2) Về cơ chế sử dụng các sản phẩm sau tài trợ mang tính ứng dụng, (3) Nâng cao năng lực cho cơ quan điều hành Quỹ, hoàn thiện hệ thống phòng ban chuyên môn có kế hoạch đào tạo và chuẩn hóa cán bộ, (4) Đổi mới phương thức quản lý CL đề tài NCCB theo hướng nâng cao CL và đảm bảo môi trường NC công bằng. Tác giả Trần Thị Thu Hà (2020) nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống cơ chế, chính sách tài chính trong việc thúc đẩy sự phát triển NCKH. Theo tác giả “cơ chế tài chính là một trong những yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại đối với chiến lược phát triển KH&CN của mỗi quốc gia”.Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên nhân gây ra các hạn chế trong hoạt động NCKH tại các đơn vị NC là sự chồng chéo các văn bản hướng dẫn, các quy định về thanh toán, quyết toán, đấu thầu.
Tác giả Nhật Minh (2019) nghiên cứu tập trung vào hoạt động tài trợ NCCB ở các Quỹ KH&CN Việt Nam và cho rằng hiện nay đang thiếu cơ chế đặc thù trong hoạt động tài trợ, tác giả nêu rõ: “Do không có cơ chế đặc thù cho nên Quỹ phát triển KH&CN quốc gia (Nafosted) và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (Natif) không thể thực hiện hết chức năng quy định tại điều lệ quỹ. Hầu hết hoạt động của quỹ chỉ thực hiện tài trợ cho các nhiệm vụ, dự án KH&CN, dẫn tới tình trạng nhiều nhiệm vụ do quỹ quản lý gặp vướng mắc trong hoạt động, giải ngân hoặc bị trùng lặp về mục tiêu, 5 đối tượng, nhiệm vụ chi của các chương trình KH&CN quốc gia”. Với những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp quản lý hoạt động tài trợ NCCB ở Quỹ KH&CN Việt Nam. Nguyễn Hồng Sơn (2012) với nghiên cứu “Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện”, một số hạn chế trong cơ chế tài chính của Việt Nam đã được tác giả đã chỉ ra như sau: “(1) chưa thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp cho KH&CN, (2) chưa nâng cao được nhận thức về vai trò của KH&CN cho doanh nghiệp (3) trong trường hợp nhận thức được tầm quan trọng của KH&CN thì khả năng có thể đáp ứng của doanh nghiệp lại chưa đủ”.
Bên cạnh những hạn chế, tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn lực tài chính cho NCKH thông qua việc thực hiện cơ chế mới về tài chính ở Việt Nam hiện nay như:“(1) cần tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công theo hướng tăng cường đầu tư tài chính cho KHCN và giáo dục, cần đầu tư tập trung cho các lĩnh vực NCCB, NC chính sách, tạo nền tảng cần thiết cho phát triển NCUD và áp dụng các thành quả NC trên thế giới vào sản xuất kinh doanh, (2) cần điều chỉnh phân bổ nguồn lực tài chính theo hướng dành một tỷ trọng lớn hơn cho các trường đại học, thúc đẩy hiệu quả của NCKH và đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập của giảng viên và thế hệ sinh viên, (3) cần đa dạng cách thức phân bổ, tài trợ cho các đề án, dự án KH&CN theo hướng cấp kinh phí thường xuyên và đề xuất NC từ dưới lên cho hoạt động NCCB, (4) cần hoàn thiện cơ chế Quỹ KH để có thể thu hút được nhiều nguồn lực tài chính và phân bổ hiệu quả từ nguồn lực này”. Tương tự, Lâm Thị Thu Hà (2015) khi nghiên cứu về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia thì chỉ khai thác khía cạnh quản lý tài chính chứ không nghiên cứu quản lý Quỹ một cách toàn diện. Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích từng nội dung trong quản lý tài chính như quản lý thu, chi và thanh quyết toán của Quỹ. Kết quả các công trình nghiên cứu và khoảng trống cần nghiên cứu Thứ nhất, qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, có thể thấy, cho đến nay, việc nghiên cứu quản lý Quỹ đầu tư cho phát triển KH&CN hầu như chỉ khai thác khía cạnh quản lý tài chính trong khi các hoạt động khác của Quỹ thì chưa được đề cập tới.
6 Thứ hai, khi nghiên cứu về Quỹ phát triển KH&CN, các tác giả thường nghiên cứu với tư cách là “nhà tài trợ” cho các hoạt động nghiên cứu khoa học mà không phân tách nghiên cứu riêng ở lĩnh vực KHTN&KT. Thứ ba, các công trình nghiên cứu hiện nay chưa phân tích đánh giá toàn diện và đầy đủ về quản lý Quỹ phát triển KH&CN trong lĩnh vực KHTN&KT trong giai đoạn hiện nay. Các tài liệu tìm được hầu hết chỉ nằm trong giai đoạn trước năm 2015. Đó là những khoảng trống nghiên cứu để tác giả có thể lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp, tránh trùng lặp và có giá trị cả về lý luận và thực tiễn.
Cơ sở lý luận về quản lý quỹ nghiên cứu cơ bản 1. Quỹ nghiên cứu cơ bản 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động nghiên cứu cơ bản * Khái niệm Theo quan điểm của Vandervan Bush (1945), khoa học cơ bản được xem là “ngân hàng tri thức” và cần được phát triển một cách hệ thống, có ưu tiên để ảnh hưởng đến sự phát triển công nghệ, kinh tế, quân sự và y tế. Do đó, nghiên cứu cơ bản (NCCB) “là những nghiên cứu được thực hiện mà không tính điểm kết thúc của nó trong thực tế, nghiên cứu cơ bản mang đến những kiến thức mới.
Đó là tư bản khoa học. Nó cung cấp đầu vào cho các ứng dụng thực tiễn. Sản phẩm và quy trình mới không tự nhiên sinh ra. Nó được tạo ra từ những nguyên lý và khái niệm mới.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải kết quả nào của NCCB cũng là đầu vào của nghiên cứu ứng dụng. Vì thế, UNESCO (1981) đưa ra định nghĩa: “NCCB là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác”. Theo quan niệm này, sản phẩm của NCCB có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, NCCB lúc này được chia làm 2 loại là NCCB thuần túy và NCCB định hướng, trong đó: “NCCB thuần túy (còn được gọi là NCCB tự do, hoặc NCCB không định hướng) là những nghiên cứu về bản chất sự vật để nâng cao nhận thức, chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng”. Còn “NCCB định hướng là những NCCB đã dự kiến trước mục đích ứng dụng”.
OECD sau này đưa ra quan điểm về NCCB “là công việc thử nghiệm hoặc lý thuyết được thực hiện chủ yếu để tiếp thu kiến thức mới của các nền tảng cơ bản của 7 hiện tượng và sự kiện quan sát được, và không dự báo trước được khả năng ứng dụng của nó”.