CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUỸ KHÁM CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ 1. Cơ sở lý luận về quản lý quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế 1. Khái niệm, vai trò về quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế a, Khái niệm quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Khái niệm Bảo hiểm xã hội Theo luật bảo hiểm xã hội năm 2018 đưa ra khái niệm về Bảo hiểm xã hội như sau: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. (Quốc hội, 2018) Theo Nguyễn Văn Định (2012): đưa ra khái niệm Bảo hiểm xã hội như sau: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội.
(Nguyễn Văn Định ,2012) Theo luật bảo hiểm xã hội (2006):BHXH là một tổ chức của Nhà nước nhằm sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung do sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động, người lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Khoản trợ cấp này giúp cho người lao động và gia đình họ số ngổn định, điều này còn tác động đến cả an sinh xã hội. (Quốc hội, 2006) Khái niệm bảo hiểm y tế Theo từ điển Bách Khoa Việt Năm (2005): “Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhân dân.” (Từ điển Bách khoa Việt Nam , 2005) Theo luật bảo hiểm y tế (2014) cho rằng “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.” (Quốc hội , 2014) Khái niệm về quỹ bảo hiểm y tế BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động, Ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác nhằm đảm bảo nguồn tài chính ổn định, đầy đủ cho công tác CSSK người tham gia BHYT. Cùng với sự gia tăng diện bao phủ BHYT, số thu quỹ BHYT cũng liên tục tăng đều qua các năm và ngày càng có vị trí quan trọng trong hoạt động y tế, góp phần giảm thiểu về tài chính y tế cho Ngân sách nhà nước.
Theo luật BHYT (2008) khái niệm quỹ BHYT như sau:là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT của người tham gia BHYT, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ BHYT, tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và các nguồn thu hợp pháp khác,được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT,chi phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT. (Quốc hội, 2008) Khái niệm quỹ khám chữa bệnh BHYT Từ những cách tiếp cận khác nhau về BHXH, BHYT ta có thể hiểu quỹ khám chữa bệnh BHYT như sau: là một phần của quỹ BHYT được dùng trong mục đích khám chữa bệnh cho những đối tượng tham gia BHYT nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các đối tượng này theo quy định của pháp luật về BHYT. b, Vai trò quỹ khám chữa bệnh BHYT Thứ nhất, mục đích hoạt động của quỹ khám chữa bênh BHYT không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và vì cộng đồng.Xuất phát từ nguyên lý của BHYT nói chung và BHYT xã hội nói riêng là“sự chia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 sẻ rủi ro” của những người tham gia BHYT, "lấy của số đông bù cho số ít"và “đóng góp theo khả năng, hưởng quyền lợi theo nhu cầu”. Vì vậy, mục đích của quỹ khám chữa bệnh BHYT là huy động sự đóng góp của người tham gia BHYT rồi sau đó phân phối, sử dụng để thanh toán chi phí KCB theo quy định cho người tham gia khi ốm đau, bệnh tật nhằm đảm bảo công bằng trong tiếp cận DVYT.
Thứ hai, quỹ khám chữa bệnh BHYT là quỹ tiêu dùng có tính chất ngắn hạn, đồng thời nó cũng là quỹ dự phòng trong việc khám chữa bệnh. Quỹ khám chữa bệnh BHYT là một quỹ tiêu dùng có tính chất ngắn hạn là bởi lẽ phần lớn số thu của quỹ hàng năm thường được sử dụng ngay để thanh toán chi phí KCB của người tham gia. Quỹ khám chữa bệnh BHYT là quỹ dự phòng là bởi lẽ người tham gia BHYT khi đóng tiền vào quỹ tức là họ đã dành khoản dự phòng cho những rủi ro sức khoẻ xảy ra trong tương lai. Số tiền đóng không phải ngay khi vào quỹ sẽ sử dụng ngay mà chỉ sử dụng khi người tham gia có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ.
Mặt khác, theo quy định mức phí đóng góp BHYT hàng năm luôn phải dành một tỷ lệ nhất định để trích lập dự phòng bù đắp các rủi ro không lường trước trong tương lai. Số dự phòng được trích lập hàng năm này cùng với nguồn ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi và khoản kết dư quỹ KCB BHYT năm trước (nếu có) sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Thứ ba, quỹ khám chữa bệnh BHYT vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Quỹ khám chữa bệnh BHYT mang tính kinh tế bởi lẽ cũng giống như bất kỳ quỹ tiền tệ hạch toán độc lập nào cũng phải xem xét yếu tố kinh tế để đảm bảo cân đối quỹ trong ngắn hạn và bảo toàn, tăng trưởng quỹ trong dài hạn.
Tính kinh tế được thể hiện qua việc huy động nguồn tài chính cho quỹ, sau đó là phân phối, sử dụng quỹ đúng mục đích, hiệu quả, đảm bảo cân đối thu, chi. Trong quá trình đó, mối quan hệ về mức đóng và mức hưởng luôn được cân nhắc, tính toán cẩn thận. Đảm bảo yếu tố kinh tế của quỹ khám chữa bệnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 BHYT không chỉ giúp thực hiện các mục tiêu của quỹ mà có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của chính sách BHYT. Quỹ khám chữa bệnh BHYT mang tính xã hội bởi lẽ xuất phát từ nguyên lý của BHYT là “sự chia sẻ rủi ro” của những người tham gia BHYT.
BHYT là hình thức “người giàu chia sẻ với người nghèo” và “người lành gánh cho người bệnh”. Dựa trên cơ chế “tham gia bắt buộc” của các thành viên nên quỹ khám chữa bệnh BHYT có thể huy động đóng góp của số đông người tham gia BHYT để hỗ trợ trang trải chi phí KCB cho số ít người bị bệnh. Điều này có nghĩa người tham gia chỉ phải đóng một khoản tiền trong khả năng chi trả thay vì phải trả một số tiền lớn khi xảy ra ốm đau, bệnh tật. Mặt khác một trong những nguyên tắc cơ bản của BHYT xã hội là “đóng góp theo khả năng chi trả” và “hưởng thụ quyền lợi theo nhu cầu”.
Do đó thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT góp phần phân phối lại thu nhập của người tham gia BHYT. Người tham gia BHYTkhi không may ốm đau bệnh tật được trang trải bằng khoản đóng của số đông người tham gia, có người đóng cả đời có thể không hoặc ít dùng đến quỹ, nhưng có khi ốm đau lại sử dụng hết số tiền đã đóng góp vào quỹ trong thời gian dài hay có người chỉ cần một đợt điều trị đã phải dùng đến quỹ của hàng nghìn người đóng BHYT. Vì vậy quỹ khám chữa bệnh BHYT đảm bảo cho mỗi cá nhân, gia đình họ có thể trang trải gánh nặng tài chính khi chi phí bỏ ra CSSK vượt quá khả năng chi trả. Như vậy, thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT đã khắc phục những “rủi ro xã hội” về sức khoẻ.
Ngoài ra, tính xã hội còn được thể hiện ở vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện dưới hình thức hỗ trợ kinh phí đóng BHYT cho các đối tượng yếu thế và vì mục tiêu an sinh xã hội, nhà nước bảo trợ cho quỹ trong trường hợp quỹ mất cân đối thu, chi. Những phân tích ở trên phản ánh tính chất cộng đồng, đoàn kết xã hội của quỹ khám chữa bệnh BHYT. Vì vậy, để đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, góp phần thực hiện an sinh xã hội, đòi hỏi không chỉ người lao động, người SDLĐ, người dân và Nhà nước phải có trách nhiệm đóng góp và tham gia giám sát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT. Thứ tư, tạo lập và sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn.
Quá trình thực hiện thanh toán chi phí KCB vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn. BHYT được thực hiện thông qua cơ chế “trả trước”, tức là người tham gia đóng phí trước khi xảy ra rủi ro và chỉ nhận quyền lợi khi gặp rủi ro về sức khoẻ. Do đó khi người tham gia BHYT không gặp rủi ro sức khoẻ như bị ốm đau, bệnh tật thì không được bồi hoàn, còn khi bị ốm đau, bệnh tật thì được bồi hoàn, mức bồi hoàn phụ thuộc vào mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi được hưởng và thời gian tham gia BHYT. Thứ năm, sự tồn tại và phát triển của quỹ khám chữa bệnh BHYT phụ thuộc vào điều kiện phát triển KTXH của từng quốc gia.
BHYT nói chung, BHYT xã hội nói riêng là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa.