Lời mở đầu” của Kế hoạch quốc gia về đổi mới hệ thống GDMN từ năm 1997 cũng đã ghi nhận “Môi trƣờng giáo dục đầu đời đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con ngƣời” [26]. Với ý nghĩa ấy, GDMN có thể đƣợc coi là lĩnh vực cần đầu tƣ tốt nhất và hàng tháng các nhà trẻ tại đây đều đƣợc thanh tra về mọi mặt từ giảng, dạy thiết bị, bếp ăn, vệ sinh. một cách nghiêm ngặt. CTGD thƣờng xuyên đƣợc kiểm tra, giám sát để đảm bảo mục tiêu GD đề ra.
Các chủ đề giáo dục thƣờng xuyên đƣợc bổ sung và giao về cho giáo viên tổ chức thực hiện dƣới dạng các dự án giáo dục nhằm phát huy năng lực sáng tạo cho trẻ. Cách xây dựng và quản lý phát triển CTGD mầm non ở Hàn Quốc cho thấy đây là cách tiếp cận dự án mà ngƣời khởi xƣớng phƣơng pháp này là Lilian Katz. Tóm lại, từ việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển chƣơng trình GDMN của các nƣớc trên thế giới và các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài cho thấy cái nhìn tổng quan về phát triển CTGD mầm non; những định hƣớng cơ bản trong thiết kế và tổ chức chƣơng trình giáo dục cho trẻ ở trƣờng MN theo phƣơng pháp mới giúp trẻ nâng cao khả năng học hỏi, sự hiểu biết, khả năng tƣ duy. Những nội dung trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn tiếp thu và vận dụng vào việc thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Những nghiên cứu ở trong nước Vấn đề phát triển CTGD nói chung và phát triển chƣơng trình nhà trƣờng ở cơ sở giáo dục mầm non nói riêng cũng đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc quan tâm nghiên cứu với các công trình tiêu biểu sau đây: Tác giả Phạm Hồng Quang với công trình “Phát triển chƣơng trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã nghiên cứu và khẳng định chất lƣợng đào tạo nói chung và chất lƣợng đào tạo giáo viên nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chất lƣợng chƣơng trình có tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế, cần phải chú trọng công tác phát triển chƣơng trình trong giáo dục đào tạo [22]. 9 download by : skknchat@gmail.com Liên quan đến vấn đề phát triển chƣơng trình nhà trƣờng đã có một số luận văn ở trình độ thạc sĩ nhƣ: công trình “Một số cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển chƣơng trình tiểu học của một số nƣớc trên thế giới và Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn [27].; công trình “Phát triển CTGD nhà trƣờng tại trƣờng trung học phổ thông chuyên Hùng Vƣơng, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Hoàng Văn Cƣờng [7].; công trình “Quản lý phát triển chƣơng trình nhà trƣờng ở các trƣờng trung học cơ sở ở huyện Vũ Thƣ, tỉnh Thái Bình” của tác giả Hoàng Thị Thu Vân [28]. Những công trình này tập trung vào nghiên cứu về phát triển chƣơng trình giáo dục nhà trƣờng ở cấp tiểu học và trung học cơ sở.
Các công trình nghiên cứu khoa học trong nƣớc nêu trên đều tập trung vào một số nội dung phát triển CTGD nhƣ: Phát triển chƣơng trình đào tạo giáo viên, về tổ chức quá trình đào tạo, về lý luận và thực tiễn phát triển chƣơng trình ở tiểu học, trung học phổ thông,. có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cụ thể ở từng địa phƣơng. Qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, cấp học MN đến nay đã trải qua bốn lần thay đổi chƣơng trình giáo dục đó là: chƣơng trình cải tiến; chƣơng trình cải cách; chƣơng trình đổi mới; chƣơng trình mới (15). Hiện nay, GDMN ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm của xã hội, của lãnh đạo các cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng.
Nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, nhiều bài viết liên quan đến vấn đề phát triển GDMN đã ra đời không nằm ngoài tâm huyết phát triển GDMN nƣớc nhà. Có thể kể đến nhƣ: “Phát triển và tổ chức thực hiện CTGD mầm non” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền [10]., Nxb Giáo dục, 2008. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu khái quát về CTGD mầm non, việc tổ chức thực hiện chƣơng trình giáo dục mầm non, một số vấn đề phát triển CTGD nhà trƣờng theo năm học cho từng độ tuổi. Những nội dung mà cuốn sách đề cập tới là cơ sở quan trọng để tác giả luận văn có thêm căn cứ trong việc xây dựng cơ sở lý luận về quản lý phát triển CTGD trẻ 3-6 tuổi ở trƣờng mầm non.
Tài liệu tập huấn “Nâng cao năng lực quản lý thực hiện chƣơng trình GDMN thí điểm” ban hành năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [3].; công trình “Một số giải pháp quản lý công tác bồi dƣỡng năng lực chuyên môn cho GVMN Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc thực hiện năm 2013 là công trình luận văn thạc sĩ 10 download by : skknchat@gmail.com khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Duyên Hồng, bảo vệ tại Đại học Vinh [13]; công trình “Phát triển chƣơng trình ngành giáo dục mầm non của Trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Cao Bằng theo chuẩn đầu ra” của tác giả Nguyễn Thị Huyền [15], bảo vệ là công trình thạc sĩ quản lý giáo dục bảo vệ tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên là nghiên cứu không chỉ quan tâm đến phát triển chƣơng trình giáo dục cho trẻ mà còn quan tâm đến phát triển chƣơng trình đào tạo giáo viên cấp học mầm non tại trƣờng cao đẳng sƣ phạm. Các tài liệu trên đã tập trung nghiên cứu về phát triển chƣơng trình giáo dục nhà trƣờng; vấn đề bồi dƣỡng năng lực giáo viên và đào tạo giáo viên mầm non song chƣa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng việc quản lý phát triển chƣơng trình GDMN tại cơ sở giáo dục mầm non. Trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý việc thực hiện chƣơng trình GDMN thật sự là vấn đề cấp thiết cần đƣợc nghiên cứu gắn với điều kiện thực tiễn về công tác giáo dục và quản lý giáo dục ở từng địa phƣơng để việc thực hiện chƣơng trình ngày càng đảm bảo chất lƣợng. Các nghiên cứu trên là cơ sở khoa học quan trọng giúp tác giả luận văn dựa vào đó xây dựng căn cứ khoa học và triển khai nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý phát triển chƣơng trình GDMN cho trẻ 3-6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc địa bàn miền núi tỉnh Hà Giang với những đặc trƣng về môi trƣờng giáo dục, góp phần nâng cao chất lƣợng thực hiện chƣơng trình, nâng cao chất lƣợng chăm sóc giáo dục trẻ nói chung ở các trƣờng mầm non.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm quản lý là khái niệm đƣợc nhiều nhà nghiên cứu về xã hội học, quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu. Theo Marry Parker Follet, “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác” [dẫn theo 9, tr46]. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều ngƣời sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [17].
Trong giáo trình “Tâm lý học quản lý”, tác giả Vũ Dũng nêu: “Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [9, tr47]. 11 download by : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý nhƣng có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các cơ chế để đạt được mục đích của quản lý. Bản chất của quản lý là các hoạt động của chủ thể quản lý có phƣơng hƣớng, có mục đích r ràng tác động đến đối tƣợng quản lý để đạt đƣợc mục tiêu xác định. Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Quản lý là một khoa học, vì nó vận dụng tri thức đƣợc hệ thống hóa, vận dụng các quy luật của chủ thể quản lý để giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Quản lý là một nghệ thuật vì đây là một hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt và sáng tạo những tri thức, những kinh nghiệm để tác động đến đối tƣợng quản lý - các cá nhân cụ thể mới có thể đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Có hai cách tiếp cận trong quản lý đó là cách tiếp cận chức năng và cách tiếp cận quá trình. Mỗi hệ thống quản lý theo cách tiếp cận chức năng bao gồm 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra các hoạt động, việc thực hiện các mục tiêu đề ra.
Mỗi hệ thống quản lý theo cách tiếp cận quá trình bao gồm các nội dung lớn, nhƣ: quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phƣơng pháp, quản lý hình thức tổ chức, quản lý con ngƣời, cơ sở vật chất, kết quả. Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh từng nội dung cho phù hợp. Mỗi nội dung, tuỳ theo tầm quan trọng và cấu trúc của hệ thống, quản lý đƣợc chia ra ba cấp độ khác nhau: cấp quản lý chiến lƣợc (quản lý cấp cao); cấp quản lý chiến thuật (quản lý bậc trung) và cấp quản lý tác nghiệp (quản lý cơ sở). Chương trình giáo dục Ngay từ thế kỷ trƣớc, các chuyên gia giáo dục trên thế giới đã đƣa ra nhiều định nghĩa về CTGD.Frey, “CTGD là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu việc dạy học”.
Đây là định nghĩa đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và thực hành giáo dục quan tâm. [dẫn theo 28] 12 download by : skknchat@gmail.com Ngày nay, quan niệm về CTGD đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy, chƣơng trình là một phức hợp các bộ phận cấu thành, cơ bản gồm: Mục tiêu học tập; Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập; Các phƣơng pháp, hình thức tổ chức học tập; Đánh giá kết quả học tập.