phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở trƣờng đại học, cao đẳng. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở Trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở Trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CHUYÊN NGÀNH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Xu thế đổi mới trong giáo dục dẫn đến sự thay đổi về vị trí và vai trò của ngƣời giáo viên/giảng viên. Trong thời kỳ đổi mới, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới giáo dục của các nhà khoa học nhƣ GS. Nguyễn Lân, GS. Hà Thế Ngữ, GS.
Đặng Vũ Hoạt, GS. Phạm Minh Hạc. đã góp thêm vào kho tàng lý luận quản lý giáo dục ở nƣớc ta ngày một phong phú. Bên cạnh các đóng góp của đội ngũ giáo sƣ đầu ngành thì cần kể đến đội ngũ các tác giả nhƣ: PGS.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS.TS Trần Khánh Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội), PGS. Đặng Quốc Bảo (Học viện Quản lý giáo dục), TS. Nguyễn Quốc Chí cũng đã có rất nhiều các công trình có liên quan đến đội ngũ nhà giáo và quản lý nhân sự giáo dục. Đặc biệt, cuốn Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2007), của PGS.
Đặng Quốc Bảo, PGS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS. Nguyễn Quốc Chí, TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến, Cử nhân Nguyễn Quang Kính và các cộng tác viên đã thiết thực giúp cho những ngƣời đã, đang và sẽ làm công tác quản lý giáo dục nói chung có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý.
Thời gian qua, đã có nhiều luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục nghiên cứu về đề tài quản lý phát triển đội ngũ giảng viên ở trƣờng đại học và cao đẳng nhƣ tác giả Đặng Hồng Thuỷ và Nguyễn Mạnh Tƣờng. Trong các nghiên cứu này các tác giả mới tập trung nghiên cứu về xây dựng và quản lý đội ngũ giảng viên nói chung mà chƣa nghiên cứu sâu về quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành. Hiện tại, đang là một giảng viên chuyên ngành của Trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội, tác giả nhận thấy quản lý phát 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành hiện nay của Trƣờng đang còn có những bất cập và hạn chế. Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc những tƣ tƣởng quý báu về xây dựng và quản lý đội ngũ giảng viên của các tác giả đi trƣớc, tác giả luận văn chọn đề tài: “Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” làm vấn đề nghiên cứu luận văn Thạc sỹ.
Với mong muốn tìm ra đƣợc những biện pháp hữu hiệu để giúp công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên chuyên ngành của Trƣờng ngày một hoàn thiện và hiệu quả hơn. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm Ngày nay, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và đƣợc nhiều ngƣời thừa nhận là nhân tố của sự phát triển xã hội. Theo Các Mác, quản lý là một hoạt động tất yếu trong lịch sử của đời sống xã hội: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân.
Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành những cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ tự độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.[26, tr 1] Do phạm vi hoạt động rộng nên đã có rất nhiều các khái niệm khác nhau về quản lý. Tùy thuộc vào sự tiếp cận, góc độ nghiên cứu, hoàn cảnh kinh tế và chính trị xã hội của từng tác giả nghiên cứu. Dƣới đây là một số ví dụ: - Theo từ điển Tiếng việt: “Quản lý là trông coi, gìn giữ theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.[45, tr 800] - Theo góc độ của tâm lý học thì quản lý đƣợc hiểu: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”.[15, tr 47] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Henry Fayol (1841 - 1925), ngƣời đầu tiên phân biệt quản lý thành các chức năng: “ Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.[5, tr 17] - Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Ngày nay, quản lý đƣợc định nghĩa cụ thể hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.[5, tr1] - Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.[25, tr 15] Các khái niệm quản lý ở trên mặc dù đƣợc diễn đạt khác nhau nhƣng đều mang những dấu hiệu chung nhƣ: - Hoạt động quản lý là những hoạt động có hƣớng đích. - Hoạt động quản lý là những hoạt động có mục tiêu và kế hoạch định trƣớc của chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) lên đối tƣợng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý) với mục đích cuối cùng của quản lý là hoàn thành mục tiêu đề ra. - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Tóm lại, hoạt động quản lý bao hàm các công việc hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc.
Bản chất của nó là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Chính vì vậy, một tổ chức dù có cơ cấu và quy mô nhƣ thế nào đều cần phải có sự quản lý và ngƣời quản lý để tổ chức và điều hành các hoạt động đạt hiệu quả mục tiêu theo mong muốn. Các chức năng cơ bản của quản lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý ngày nay có bốn chức năng cơ bản là: (1) kế hoạch hóa (planning); (2) tổ chức (organizing); (3) chỉ đạo/lãnh đạo (leading) và (4) kiểm tra (controlling). (1) Kế hoạch hoá: có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tƣơng lai của tổ chức và các con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó.
Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá gồm: xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của các tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu. lựa chọn phƣơng án và tổ chức các phƣơng tiện để thực hiện mục tiêu. (2) Tổ chức: xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu của tổ chức phải đạt các yêu cầu: tính tối ƣu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế.
(3) Chỉ đạo: chỉ đạo thực chất là tác động của chủ thể quản lý vào các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định (mệnh lệnh) cho nhân viên dƣới quyền. Hƣớng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên. để thuyết phục, thúc đẩy họ làm việc đạt đƣợc các mục tiêu đề ra bằng nhiều biện pháp khác nhau.
(4) Kiểm tra: là việc theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Mọi kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra, nếu không tƣơng ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Tất cả các chức năng cơ bản trên khi vận hành không thể thiếu yếu tố đƣợc xem là nền tảng, huyết mạch, đó chính là thông tin. Thông tin quản lý đƣợc xem nhƣ là hệ thần kinh của hệ thống quản lý, có tác động đến tất cả mọi khâu của quá trình quản lý.
Mọi thông tin quản lý đều nhằm phục vụ cho 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc ra quyết định quản lý và đạt mục tiêu quản lý. Ngƣợc lại, bất cứ một quyết định quản lý nào cũng phải chứa đựng thông tin và sản phẩm của quyết định quản lý cũng là thông tin. Quá trình quản lý có thể đƣợc cụ thể hoá qua mô hình sau: Kế hoạch hóa Kiểm tra Thông tin quản lý Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Mô hình các chức năng trong quá trình quản lý (Nguồn: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Bài giảng Cơ sở khoa học quản lý.
Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996/2004).1 ta thấy, từng chức năng của quản lý vừa có tính độc lập tƣơng đối lại vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác và có mối quan hệ rất chặt chẽ với thông tin quản lý. Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào trong chuỗi các chức năng này đều gây ảnh hƣởng xấu tới sự thành công của quá trình quản lý trong hệ thống. Phát triển Trong Từ điển Tiếng Việt, phát triển là: “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, là sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp”.