Chương 1. Lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo tại Trung tâm GDTX tỉnh Thái Nguyên. Thực trạng công tác quản lý nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo ở Trung tâm GDTX tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2008 - 2011. Một số biện pháp quản lý nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo ở Trung tâm GDTX tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011-2015.
- Kết luận và khuyến nghị. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUA TRÌNH THỰC HIỆN LIÊN KẾT ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM GDTX TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Sơ lược các nghiên cứu ở nước ngoài Dựa trên quan điểm cho rằng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và mỗi địa phương, vấn đề đào tạo và quản lý nhân lực đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế, bao gồm trong đó những công trình nghiên cứu về mặt lý luận và những công trình nghiên cứu thực tiễn.
Các nước phát triển ở châu Âu như Đức, Anh, Pháp; châu Mỹ như Mỹ, Canađa và một số quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, … đã có nhiều tác giả nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về mặt lý thuyết đối với vấn đề đào tạo, quản lý về phát triển nguồn nhân lực. Các kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở giúp chính phủ đưa ra được các chương trình, dự án đào tao, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.K trong tác phẩm Human rsourcer and prersonnal Mangerent [12, 125] đã phân tích vai trò, cơ cấu nguồn nhân lực, các chỉ số nguồn nhân lực và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực. Các công trình nghiên cứu của Weihrich và Heinx. M [11, tr 107] đã phân tích vấn đề hiện đại hóa quá trình đào tạo, phất triển nguồn nhân lực, vấn đề quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực như một yếu tố được quan tâm hàng đầu trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Ngân hàng thế giới 1996 xuất bản tài liệu “Những mục tiêu phát triển giáo dục” [7] đã đưa ra những xu hướng mới trong đào tạo nhân lực và những ưu tiên trong đào tạo và phát triển nhân lực. Tài liệu này đã được sử dụng như một cẩm nang ở nhiều nước. Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đào tao, quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Phạm Minh Hạc trong các bài viết “Nguồn lực con người - yếu tố quyết định việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” và “Những giải pháp nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ nguồn nhân lực” đã đề cập tới ba vấn đề quan trọng của thời đại kinh tế tri thức đó là: nhân tố con người, nguồn nhân lực con người và phát triển con người [4], Tác giả đã nhấn mạnh rằng sự phát triển giáo dục ngày nay là để phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Tác giả Trần Khánh Đức, trong công trình: “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đã đề cập đến mối quan hệ giữa lịch sử phát triển kinh tế, xã hội khoa học công nghệ của nhân loại về đào tạo, phát triển nhân lực Việt Nam [2]. Tác giả Nguyễn Lộc trong một số công trình nghiên cứu [8] đã làm rõ bức tranh về thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam và quốc tế, mô hình phát triển nhân lực của Việt Nam trong tiến trình hội nhập và những giải pháp phát triển nhân lực của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Tác giả Nguyễn Tiệp đã đề cập tới các chỉ tiêu đánh giá quy mô, chất lượng nguồn nhân lực, đặc điểm nguồn nhân lực và vấn đề phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao ở nước ta thời kì CNH - HĐH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Các tác giả Phùng Ngọc Nhạ, Trần Thị Kim Dung, … đã phân tích những vấn đề nhân lực và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực [5].
Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến đã phân tích sâu sắc vấn đề cơ cấu nguồn nhân lực, giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực [1]. Đề tài cấp nhà nước KV05, KV05 - 10 do Nguyễn Minh Đường làm chủ biên: thực trạng và giải pháp đào tạo lao động từ trung cấp chuyên nghiệp đến đại học, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện kinh tế thị trường [3]. Luận án tiến sĩ: Quản lý đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển dịnh cơ cấu kinh tế tỉnh bình thuận của tác giả Nguyễn Phan Hưng [6]. Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện mô hình quản lý, đào tạo nguồn nhân lực trong các trường đại học của Ngô Tấn Lực - 2007 [9].
Điểm qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước cho ta thấy trong quá trình CNH -HĐH đất nước và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương luôn gắn liền với việc triển khai, nghiên cứu về phát triển và quản lý nguồn nhân lực để có thể thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội trong quá trình chuyển đổi kinh tế cần có một đội ngũ người lao động được học nghề, một đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề, các chuyên gia có trình độ tay nghề cao. Một số khái niệm 1. Một số khái niệm về quản lý Quản lý: Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu, đúng ý chí của chủ thể quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý giáo dục : Là hoạt động tiến hành , phối hợp các lực lượng xã hội theo kế hoạch nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Quản lý quá trình đào tạo : Là hoạt động tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy và học nhưng cán bộ quản lý giáo dục bằng những hoạt động quản lý của mì nh, tác động vào quá trình giáo dục nhằm hướng cho hoạt động dạy và học đạt được những mục tiêu , yêu cầu của giáo dục và đảm bả o chất lượng giáo dục. Khái niệm về nguồn lực Khái niệm nguån lùc: Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực (con người), nguồn tài lực (nguồn tài chính), nguồn vật lực (nguồn cơ sở vật chất) và thông tin. Kh¸i niÖm nguån nhân lực: là nguồn lực quan trọng nhất, là vốn quý nhất để phát triển nhà trường. Nguồn nhân lực của trường là lực lượng giáo viên, cá bộ và nhân viên với năng lực chuyên môn của từng người tham gia vào các hoạt động của nhà trường.
Quản lý nguồn nhân lực: Quản lý nguồn nhân lực là quản lý năng lực chuyên môn, sở trường công tác của đội ngũ tham gia vào hoạt động để đạt được mục tiêu của hệ thống đã đặt ra. Quản lý nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện liên kết đào tao: Quản lý nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện liên kết đào tạo ở trung tâm GDTX là quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên với tiềm năng, khả năng chuyên môn của họ trong hoạt động để thực hiệc các mục tiêu về công tác đào tạo mà đơn vị đã đề ra. Một số vấn đề chung về giáo dụ c không chí nh quy ở các trung tâm GDTX cấp tỉnh 1. Giáo dục không chí nh quy - một phương thức giáo dục thường xuyên Đào tạ o theo hì nh thức vừa là m vừa họ c là hình thức đào tạ o thực hiệ n theo định hướng củ a giá o dụ c thế kỷ XXI được xây dựng trên nề n tả ng "Học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 tập thường xuyên, học tậ p suố t đời" với bố n trụ cột củ a giá o dụ c là "Học để biết, học để làm, học để tồn tạ i, học để cùng chung số ng "gắn với lý tưởng "Tiến tới xã hội học tập" (UNESCO - 1996 ).
Theo UNESCO , Giáo dục không chí nh quy (GDKCQ) và Giáo dục chính quy (GDCQ) đều có tầm quan trọng như nhau đối với sự phát triển tài nguyên con người, chúng bổ sung cho nhau vì vậy cả hai loại chương trình này cần được tiến hành song song với nhau; cả hai cần phải có những tài liệu học tập mang tính đặc trưng, đều phải có giáo viên chuyên trách và sự trợ giúp về tài chính; đều cần được tổ chức một cách có hệ thống. Cũng theo UNESCO, giữa GDCQ và GDKCQ có một số điểm khác biệt: GDKCQ cần đến sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn so với GDCQ; tác dụng (hiệu quả) của chương trình GDKCQ phụ thuộc vào nhu cầu của người dân ở cộng đồng; mặc dù GDCQ và GDKCQ đều được cấu trúc theo chương trình giảng dạy và học tập, những GDKCQ có tính mềm dẻo hơn. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu và quản lý thuộc Vụ GDTX cho rằng, GDCQ được hiểu là những chương trình được cung cấp bởi những thể chế giáo dục đã được thiết lập trong các trường thuộc các cấp, bậc học như trường mầm non, TH, THCS, THPT, CĐ, ĐH. Còn GDKCQ là các hoạt động có tổ chức dành cho những người không học hệ thống GDCQ.
Theo các tác giả của “Từ điển giáo dục học”, GDKCQ là phương thức giáo dục mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm kiếm, việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.giữa các nhà nghiên cứu.