Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ngô Văn Toại và Bùi Việt Hưng (2021) với bài viết xây dựng xã nông thôn mới thông minh trong thời đại công nghiệp 4. Trong bài viết của mình, các tác giả đã cho thấy thời đại công nghiệp 4.0 không chỉ được coi là một xu hướng hiện đại, mà còn được xem là cuộc cách mạng mang đến nhiều cơ hội phát triển một cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh đó, các địa phương cần nắm bắt cơ hội đề phát triển.
Ở mỗi xã khi xây dựng nông thôn phải tận dụng cơ hội để hướng tới xây dựng xã nông thôn mới kiểu mau, nông thôn mới thông minh, làm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn một cách hiệu quả và bền vững. Nội dung xây dựng xã nông thôn mới thông minh đó là: Phát triển kinh tế dựa trên các giải pháp, ứng dụng thông minh; Tổ chức đời sống xã hội dựa trên các giải pháp, ứng dụng thông minh; Bảo vệ môi trường bằng các giải pháp, ứng dụng thông minh; Tổ chức chính quyền dựa trên các giải pháp, ứng dụng thông minh. Nguyễn Thị Ưng (2021) với nghiên cứu quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay (qua nghiên cứu chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa). Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mặc dù tỉnh Thanh Hóa đã có những thành công nhất định của việc thực hiện QLXH trong XDNTM, tuy nhiên QLXH van chỉ được nhìn nhận chủ yếu một chiều là vai trò của các cơ quan thuộc quyền lực nhà nước, mang tính chất chính thức, từ trên xuống dưới, pháp quy và bị động.
Trong khi đó, vai trò của cộng đồng tham gia QLXH, mang tính chất phi chính thức, từ dưới lên, chủ động, tự quản. chưa được chú ý đúng mức. Trong tổ chức và QLXH ở nông thôn chưa xem trọng vai trò của các thiết chế xã hội. Những rào cản của truyền thống vẫn đang tác động tiêu cực đến hiệu quả QLXH hiện đại một cách khá phô biến.
Bên cạnh đó, chưa phát huy tích cực vai trò và sự tham gia của người dân, các tô chức xã hội trong tham gia QLXH ở nông thôn. Các cá nhân công dân, tổ chức xã hội thường có xu hướng bị nhà nước hóa, chính trị hóa, hoặc thị trường hóa. Mặc dù đã có những thay đổi nhất định, tuy nhiên thực tế cho thấy chưa có nhận thức đủ về sự cần thiết phải phát huy chức năng, vai trò của các tô chức xã hội trong QLXH ở nông thôn. Đặng Minh Tuyến và cộng sự (2021) với đề tài nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững cơ sở hạ tầng ở nông thôn phục vụ xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu cho thấy việc quản lý sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp cận với lượng lớn người nghèo ở nông thôn, giúp giảm nghéo và nâng cao vị thé cho cư dân nông thôn bằng cách cung cấp sự tiếp cận tốt các dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch, thị trường địa phương, tiếp cận các công việc phi nông nghiệp cũng như các cơ hội kinh tế khác. Nguyên nhân gốc rễ của các tồn tại trong quản lý sử dụng cơ sở hạ tầng nông thôn là do không đủ kinh phí, năng lực yếu kém và các cau trúc quản trị không phù hợp, không đồng bộ; Thiếu sự tham gia của người thụ hưởng/cộng đồng, sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư, không duy trì, nâng chất được tiêu chí nông thôn mới cho giai đoạn sau năm 2020, gia tăng chi phí sửa chữa, phục hồi rất lớn. Nghiên cứu đã đề xuất được các nhóm giải pháp dé quan ly sử dụng hiệu quả, bền vững các loại hình công trình hạ tầng nông thôn (giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, chợ, nhà văn hóa): Giải pháp, cơ chế phân cấp quản lý, giao khoán; Khuyến khích cộng đồng tham gia đầu tư và quản lý; Các quy trình quy định quản lý; Giải pháp về tài chính cho hoạt động quản lý và duy tu bảo dưỡng thường xuyên; Giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực. Nguyễn Viết Hưng (2021) với nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Luận văn đã hệ thống được những khái niệm cơ bản về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, đánh giá được những thực trạng, những hạn chế, yếu kém và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong công tác thực hiện chương trình nông thôn mới. Trong đó có một số giải pháp quan trọng như: Xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước; Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về kỹ năng quản lý và chuyên môn nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ tham gia thực hiện chương trình; Phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân; Xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế kết hợp với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và bảo vệ môi trường. Nguyễn Lê Dũng và cộng sự (2020) đã nghiên cứu thực trạng quản lý cơ sở hạ tầng nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và định hướng giải pháp. Nghiên cứu cho thấy các loại mô hình tổ chức quản lý CSHT nông thôn thiết yêu ở vùng nghiên cứu khá đa dạng, có sự khác nhau giữa từng loại hình CSHT.
Mỗi loại mô hình có ưu điểm, nhược điểm riêng tùy theo từng loại CSHT. Vì vậy, định hướng chính trong nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng CSHT nông thôn là tăng cường năng lực, củng cô các mô hình hiện có. Bên cạnh đó, cần áp dụng một cách đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách đề đạt hiệu quả tối ưu. Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả, bền vững trong quản lý, sử dụng CSHT nông thôn do nhóm tác giả đề xuất đã được thử nghiệm tại vùng Đồng bằng sông Hồng.
Thông qua bộ tiêu chí, nhóm tác giả đã đánh giá được một cách chi tiết, tiếp cận được nhiều khía cạnh về hiện trạng quản lý, sử dụng CSHT nông thôn thiết yếu cho vùng nghiên cứu. Tuy nhiên, một số tiêu chí đánh giá còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người được phỏng vấn, có thé dẫn đến sai số trong kết quả đánh giá. Lê Hồng Quân (2020) với nghiên cứu quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Bài viết cho thấy qua 10 năm (2011 - 2020) triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, huyện Gò Công Đông đã đạt được nhiều kết quả nỗi bật.
Đạt hiệu quả nhất là việc quản lý và sử dụng nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới. Cụ thể, tổng kinh phí thực hiện đến tháng 3/2020 là 2.397,39 tỷ đồng, trong đó, vốn ngân sách chiếm gần 40%, còn lại là vốn tín dụng (29%), vốn doanh nghiệp (11%) và vốn vận động nhân dân (20%). Các nguồn vốn của nhân dân đóng gop, nguôn vôn hồ trợ, tài trợ của các tô chức, cá nhân và nguôn vôn khác được thực hiện đúng quy định, đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, do người dân tự bàn bạc, quyết định, thực hiện đúng quy chế dân chủ, không áp đặt. Nhân dân trực tiếp quản lý, quyết định đầu tư theo đúng các hạng mục trong Đề án đã được phê duyệt.
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn do nhân dân đóng góp thông qua các Ban Quản lý ấp, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, qua đó đảm báo sự đồng thuận trong nhân dân, đáp ứng được yêu cầu về tiến độ, chất lượng xây dựng các công trình phúc lợi phục vụ nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thần của nhân dân trên địa bàn huyện. Song song đó, tập trung đầu tư hạ tầng gắn với phát triển quỹ đất, tạo kinh phí chi trả nợ đọng và đầu tư phát triển. Hàng năm, kết quả thu từ đấu giá quyền sử dụng đất đều đạt và vượt dự toán tỉnh giao. Từ kết quả đó, cùng với những quyết tâm và nỗ lực trong định hướng, chỉ đạo, Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện tốt việc xử lý, kiểm soát, hạn chế phát sinh nợ mới.
Tính đến tháng 5/2020, trên địa bàn huyện Gò Công Đông không có nợ đọng trong xây dựng nông thôn mới. Lê Thị Câm Oanh (2019) đã thực hiện nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Buk, tinh Đắk Lắk. Nghiên cứu nêu rõ kết quả thực hiện từng nội dung: Xây dựng, ban hành hệ thống chính sách, các văn bản quản lý nhà nước về xây đựng nông thôn mới; Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dé thực hiện xây dựng nông thôn mới; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn mới. Tác giả đã đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua, bao gồm: Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới bao gồm: Hoàn thiện công tác xây dựng, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới huyện Krông Búk; Nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; Tăng cường huy động và ban hành cơ chế quản lý có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho xây dung nông thôn mới; Day mạnh công tác kiểm tra, giám sát xây dựng nông thôn mới.
Lê Đức Niêm và cộng sự (2018) với nghiên cứu sự hài lòng của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới ở xã Ea Tiêu, huyện Cư Kun, tỉnh Đắk Lắk. Qua phân tích thực trạng nông thôn xã Ea Tiêu theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới cho thấy xã có 13/19 tiêu chí cơ bản đạt so với yêu cầu, có 6/19 tiêu chí tổ chức thực hiện còn chưa đạt yêu cầu, một phần trong quy hoạch giao thông đường trục chính nội đồng theo bộ tiêu chí quy định được cứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện thì không phù hợp.