phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng I: Cơ sở lý luận quản lý Nhà nƣớc về thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng. Chƣơng II : Thực trạng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại trên địa bàn Tỉnh Savannakhet, nƣớc CHDCND Lào Chƣơng II I : Phƣơng hƣớng và giải pháp đổi mới quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại của Tỉnh Savannakhet. 6 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.Tổng quan về thương mại trong nền kinh tế thị trường 1.
Khái niệm thương mại trong nền kinh tế thị trường Các ngành kinh tế quốc dân ra đời và phát triển là do sự phân công lao động xã hội dẫn tới chuyên môn hoá sản xuất. Điều đó tất yếu phải có trao đổi hoạt động của những ngƣời sản xuất hàng hoá. Đầu tiên là trao đổi hoạt động của những ngƣời sản xuất hàng hoá khác nhau. Theo học thuyết kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác- Lênin, thƣơng mại là hình thức phát triển của trao đổi hàng hoá, từ hàng đổi hàng trực tiếp giản đơn(H-H)sang trao đổi hàng hoá mở rộng thông qua trung gian là tiền tệ(H- T- H) và khi phát triển thành thƣơng mại thì trao đổi sản phẩm mang hình thái mới là mua bán hàng hoá, việc mua bán đó dần dần trở thành đối tƣợng của một loại ngƣời chuyên biệt-đó là thƣơng nhân, Thƣơng nhân đầu tƣ vào lĩnh vực mua bán hàng hoá, dịch vụ sinh lời làm mục đích kinh doanh, tức là phải thu đƣợc một khoản tiền lớn hơn lúc ban 1 đầu.
Vì vậy công thức biểu hiện hoạt động thƣơng mại là T-H-T‟(T‟=T+∆t). Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân thì thƣơng mại là ngành kinh tế thuộc nhóm ngành thứ hai, làm nhiệm vụ mua bán cung cấp dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các quá trình sản xuất và đời sống của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thƣơng mại với tƣ cách là một ngành của nền kinh tế quốc dân nhƣng hoạt động chủ yếu trong khâu phân phối và lƣu thông. Thƣơng mại là phạm trù kinh tế khách quan đƣợc hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở nền sản xuất hàng hoá, với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và trình độ phân công lao động xã hội.
Quá trình tái sản xuất xã hội là một chu trình tuần hoàn bao gồm các khâu sản xuất-phân phối-lƣu thông-tiêu dùng. Thƣơng mại nằm trong 1 7 C.Mác (1975), Tƣ bản, quyển I, Tr.2, Nxb Sự thật, Hà Nội. 8 khâu phân phối, lƣu thông của quá trình tái sản xuất xã hội và đảm nhiệm chức năng lƣu chuyển hàng hoá xã hội. Trong điều kiện hiện nay, thƣơng mại chịu sự ảnh hƣởng của xu hƣớng toàn cầu hoá kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế trí thức.
Thƣơng mại đóng vai trò cung cấp đầu vào và giải quyết đầu ra cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng hoá toàn xã hội, khai thác tiềm năng và phát huy nội lực và lợi thế của đất nƣớc, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân. Vì thế, hoạt động thƣơng mại ngày nay không hạn chế phạm vi mua bán hàng hoá vật thể truyền thống, mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ. Do vậy ra có thể định nghĩa thƣơng mại trên nhiều góc độ nhƣ sau: Theo nghĩa hẹp: Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá. Hoạt động mua bán hàng hoá trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia.
Theo nghĩa rộng: Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trên thị trường trong và ngoài nước trừ lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh, đối tượng kinh doanh là tất cả các yếu tố của sản xuất và hàng hoá tiêu dùng, tất cả các sản phẩm do lao động tạo ra cả hữu hình và vô hình, tất cả các hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục đích lợi nhuận đều được coi là thương mại, thương mại theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với kinh doanh. Nguồn gốc của thương mại Xét từ nguồn gốc, sự ra đời của nền kinh tế, trong đó có thƣơng mại, là một bƣớc tiến lên phía trƣớc trong lịch sử phát triển loài ngƣời. Nhƣng hiện thực trải qua của các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa có nền kinh tế thị trƣờng, trong đó hoạt động thƣơng mại là một hoạt động sôi nổi bao trùm, cho thấy rằng thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa và thƣơng mại tƣ bản chủ nghĩa,do nguyên tắc xuất phát của nó lấy lợi ích của nhà tƣ bản làm mục tiêu cao nhất, đã làm nảy sinh biết bao điều tệ hại về đạo đức, về quan hệ giữa con ngƣời và con ngƣời, làm ô nhiễm bầu không khí tính thần của cả xã hội.
Vai trò của thương mại.1 Xét theo công dụng kinh tế của hàng hoá. Thƣơng mại là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thông qua hoạt động thƣơng mại trên thị trƣờng, các chủ thể kinh doanh đƣợc mua bán các hàng hoá và dịch vụ. Điều đó bảo đảm cho quá trình tái sản xuất xã hội đƣợc tiến hành bình thƣờng, lƣu thông hàng hoá và dịch vụ thông suốt. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng là ở chỗ: Nếu không có hoạt động thƣơng mại phát triển thì chu trình tái sản xuất hàng hoá không thể phát triển nền kinh tế của đất nƣớc.
Thông qua việc mua bán hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng, thƣơng mại có vai trò trong việc mở rộng, khuyến khích, nâng cao nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng lên của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp; kích cầu làm tăng sức mua của nhân dân-đây là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nƣớc. Thực hiện quá trình lƣu chuyển hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất và phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân thông qua hoạt động mua bán trao đổi trên thị trƣờng. Qua quá trình lƣu chuyển hàng hoá, thƣơng mại phải tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lƣu thông, Vậy, thƣơng mại phải làm tốt công tác vận chuyển, kho hàng bến bãi tiếp nhận, đóng gói, bảo quản, phân loại hàng hoá. trƣớc khi đƣa tới các đối tƣợng tiêu dùng.2 Xét theo mức độ trực tiếp với người tiêu dùng Vì tiêu chuẩn chất lƣợng đối với những sản phẩm hàng hoá cùng loại trong khu vực và trên thế giới, từ đó bắt buộc các cơ sở sản xuất ngay từ khâu đầu tiên trong sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi chỉ tiêu chất lƣợng đã đăng ký.
Trên nhãn mác bao bì phải ghi đầy đủ rõ ràng tên sản phẩm, đặc tính công dụng, cơ sở sản xuất, thành phần, hạn sử dụng, thời hạn, địa điểm bảo hành và hƣớng dẫn sử dụng hàng hoá cho khách hàng. Mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm trung thực, chính xác trong việc thông tin, quảng cáo về chất lƣợng hàng hoá của mình và giải quyết kịp thời mọi khiếu nại của khách hàng về chất lƣợng hàng hoá. Những hàng hoá lƣu thông trên thị trƣờng có quy mô nhỏ, phân tán, vận động thẳng từ sản xuất đến tiêu dùng nhất là mặt hàng lƣơng thực, thực phẩm nhƣ thịt gia 1 súc, gia cầm. lại lƣu thông qua mạng lƣới lƣu thông chợ là chính, nguồn hàng và ngƣời bán chủ yếu là ngƣời dân ven khu đô thị hoặc ở tỉnh khác lân cận đƣa vào tiêu 2 thụ ở thị xã, thành phố.
Tăng cƣờng tính nghiêm minh trong xử lý các trƣờng hợp vi phạm đối với cả các doanh nghiệp trong nƣớc cũng nhƣ ngoài nƣớc, Nhà nƣớc cần có chính sách khuyến khích, ủng hộ mạnh mẽ nữa những hàng hoá trong nƣớc có chất lƣợng. Nhận thức của ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất đối với các vấn đề môi trƣờng nhƣ hạn chế sử dụng nguyên liệu từ nguồn tài nguyên không tái tạo, sử dụng các loại hàng hoá thay thế, tạo áp lực đối với các hành vi vi phạm.Thói quen tiêu dùng của dân cƣ đã có nhiều thay đổi theo hƣớng thân thiện với môi trƣờng. Điều này có thể thấy rõ nhất trong vấn đề lựa chọn thực phẩm của ngƣời tiêu dùng, nhất là ở đô thị. Dịch cúm gia cầm vào cuối 2009 và đầu năm 2010 với việc không sử dụng thịt gà ở các đô thị cho thấy, nhận thức của ngƣời tiêu dùng về môi trƣờng và sức khoẻ đã có thay đổi tích cực.
Các doanh nghiệp kinh doanh cũng đã có nhiều cải tiến trong sản xuất nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Xét theo hình thức sở hữu. Hình thức sở hữu bao gồm trong phân loại doanh nghiệp đó là: thƣơng mại tƣ nhân, hợp tác xã, kinh doanh.Hoạt động sở hữu công nghiệp thƣơng mại bao hàm hoạt động xã hội liên quan tới các đối tƣợng là kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết, thiết kế bố trí mạch tích hợp, chủng vi sinh, giống cây trồng mới); của hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng dụng (kiểu dáng công nghiệp) và của hoạt động sáng tạo trong kinh doanh (nhãn hiệu hàng hoá; nhãn hiệu dịch vụ; bí mật thƣơng mại; chỉ dẫn địa lý). Nội dung quản lý Nhà nƣớc về thƣơng mại trong nền Kinh tế thị trƣờng 1.
Nội dung cơ bản quản lý Nhà nƣớc về thƣơng mại 2 Bộ thƣơng mại, Viện nghiên cứu thƣơng mại(2006); Đề tài khoa học cấp bộ mã số: 2005-78-019: "Nội dung và phƣơng pháp quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thƣơng nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" Hà Nôi, Tr. 1 Một là: Hoạch định chiến lƣợc,quy định, kế hoạch phát triển thƣơng mại Chiến lƣợc phát triển thƣơng mại đƣợc xây dựng nhằm đề ra những mục tiêu, phƣơng hƣớng và hệ thống giải pháp lớn để huy động tối ƣu các nguồn lực cho phát triển thƣơng mại của quốc gia bao gồm: Chiến lƣợc thƣơng mại trong nƣớc và chiến lƣợc thƣơng mại quốc tế trong một thời gian khá dài (khoảng 10năm 20năm) góp phần thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tê- xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ lịch sử. Hệ thống chiến lƣợc thƣơng mại trong nền kinh tế quốc dân thuộc nội dung quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại bao gồm: - Chiến lƣợc thƣơng mại quốc gia(thƣờng do Bộ công nghiệp và thƣơng mại xây dựng và đƣợc Chính phủ thông qua) thể hiện những quan điểm chỉ đạo chung của Nhà nƣớc đối với thƣơng mại, mục tiêu tổng quát của ngành thƣơng mại và các giải pháp vĩ mô.