Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 1. Khái niệm đô thị 1. Khái niệm đô thị và tiêu chuẩn, phân loại đô thị a) Khái niệm đô thị Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
(Nguyễn Đình Hương, 2003) Theo góc độ về quản lý kinh tế thì đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp có cơ sở hạ tầng thích hợp và là trung tâm chuyên ngành có vai trò và tầm quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước, hay của một miền lãnh thổ. Ở Việt Nam đô thị được nhà nước quy định là các thành phố, thị xã, thị trấn có dân số từ 4000 người trở lên trong đó trên 65% lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, và ngày nay được bổ sung thêm nhiều chỉ tiêu trong đó có chỉ tiêu phải có quy hoạch chung cho tương lai. b) Tiêu chuẩn đô thị Theo Điều 6 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ban hành ngày 07/5/2009 các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm: 1. Chức năng đô thị Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững.
Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. c) Phân loại đô thị Theo luật Quy hoạch đô thị năm 2009. Đô thị được đánh giá theo các tiêu chí sau: Vị trí, chức năng, vai trò cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị. a) Dân số và lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 b) Chất lượng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và môi trường đô thị c) Chất lượng hệ thống hạ tầng xã hội d) Quản lý đô thị Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị, dựa trên các nhóm tiêu chí trên đô thị Việt Nam được phân thành 6 loại sau: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại V.
Cụ thể: * Đô thị loại đặc biệt Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị được xếp vào loại đặc biệt của Việt Nam. * Đô thị loại I, loại II Đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
Đô thị loại I: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng miền lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước. Đô thị loại II: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 * Đô thị loại III Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh.
* Đô thị loại IV Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh. * Đô thị loại V Đô thị loại V là thị trấn thuộc thành phố có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một thành phố hoặc một cụm xã.
Trong đó, đô thị loại I và loại II phải do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận; Các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; Loại V do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận. Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị 1. Khái niệm quy hoạch đô thị Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 “Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Quy hoạch đô thị là một khái niệm được dùng để chỉ các hoạt động kiểm soát hay tổ chức môi trường sống đô thị.
Các hoạt động này bao gồm: quy định kiểm soát phát triển, ban hành luật, quản lý quy hoạch đô thị, lập phê duyệt quy hoạch, đề ra tiêu chí, lập và phê duyệt quy hoạch, nghiên cứu đào tạo phát triển đô thị…. Trong các bối cảnh khác nhau thì các hoạt động này được thực hiện theo các phương pháp khác nhau. Do việc nhìn nhận, đánh giá, giải quyết các vấn đề đô thị không chỉ phụ thuộc vào năng lực các bộ máy chuyên môn mà còn lệ thuộc nhiều vào chủ trương của bộ máy cầm quyền và khả năng đáp ứng của nền kinh tế. Trong các hoạt động trên có thể nói hoạt động quản lý quy hoạch là quan trọng nhất trong quản lý đô thị vì nó mang tính quyết định đến sự phát triển của mỗi vùng miền, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực từ giao thông, đô thị đến kinh tế, xã hội.
Công tác quản lý quy hoạch đô thị trong thực tế được cụ thể thành những nhiệm vụ như sau: lập và xét duyệt Quy hoạch đô thị, soạn thảo và ban hành hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật, tổ chức quản lý nhà nước về quy hoạch và xây dựng đô thị. Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị Theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị, quản lý quy hoạch đô thị là “quá trình thiết lập các quy định bắt buộc, lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển xã hội nhằm đảm bảo cho các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị… đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt được thực hiện. Quản lý quy hoạch đô thị là quá trình nghiên cứu những bất cập của các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị, nghiên cứu các bất cập của những chính sách áp dụng trong quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý, đề xuất với các cấp có thẩm quyền để giải quyết một cách kịp thời”. Vai trò của quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Quy hoạch có vai trò rất quan trọng trong đầu tư xây dựng (ĐTXD) và phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác quy hoạch tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ, là cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.