Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp 1. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp 1. Khái niệm Lý lịch tư pháp Về mặt khái niệm thì thuật ngữ "Lý lịch tư pháp" không phải được sử dụng một cách giống nhau ở các nước khác nhau.
Nhưng có thể nói rằng trong các thuật ngữ khác nhau theo cách gọi của mỗi nước đều hàm chứa những nội dung tương tự. Ở các nước Phương Tây, trong tiếng Anh, thuật ngữ Lý lịch tư pháp là "Criminal records", tiếng Pháp có từ "casier judiciaire". Các thuật ngữ này đều là ghi nhận thông tin về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đã tuyên đối với một cá nhân mà nội dung chủ yếu là những thông tin Luận văn thạc sĩ Luật Học liên quan đến bản án hình sự. Trong tiếng Pháp, là cụm từ ghép giữa từ “casier và judiciaire” trong đó từ "casier" có nghĩa là cái tủ hoặc cái giá nhiều ngăn, có thấy tính chất của công tác này là sắp xếp, phân bổ, phân chia theo thứ tự khác nhau.
Như vậy, theo cách gọi của tiếng Pháp từ "Casier judiciaire" gợi cho ta hình dung về những ngăn tủ có chứa đựng những hồ sơ (những tập Fiche) về tư pháp. Nói một cách hình ảnh đó là nơi lưu trữ về án tích của những người đã can án. Tại Bỉ, Lý lịch tư pháp được hiểu là một hệ thống xử lý tự động, có nhiệm vụ đảm bảo việc đăng ký, lưu trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng. Trong khi đó ở Đức, Lý lịch tư pháp được hiểu là việc đăng ký, lưu trữ, xử lý các thông tin về bản án hình sự của toà án, thông tin liên quan đến quyết định của cơ quan hành chính và toà án về vi phạm trong công nghiệp và thương mại, các quyết định của cơ quan công tố hình sự về việc truy tố đang thực hiện đối với một người nào đó [21, tr.
7 Thời Trung cổ, luật hình của nhiều nước đã quy định việc ghi nhớ án tích bằng cách thích chữ vào mặt (điển hình là trường hợp của Lâm Xung, Địch Thanh thời nhà Tống-Trung Quốc), hoặc chặt các ngón tay, ngón chân hoặc cắt tai… của kẻ phạm tội (cũng giống như một số hoạt động của giang hồ, xã hội đen) hay ở nước Pháp thì có hình thức thích dấu hoa huệ vào vai (như trường hợp của Milady trong tiểu thuyết Ba người lính ngự lâm), hoặc một số người bị phạm tội phải trở thành nô lệ thì cũng bị thích, xăm lên mình những con dấu nô lệ (đánh dấu). nói chung là tùy theo từng loại tội mà thực hiện việc lưu trữ trên. Theo quy định của pháp luật Phong kiến ở một số nước như Trung Quốc, Việt Nam., hình thức thích chữ vào mặt thường được áp dụng đối với tội đại hình với hình phạt lưu đày [21, tr. Còn hình thức chặt ngón tay, ngón chân thường được áp dụng đối với loại tội như tội trộm cắp.
Hình phạt này vừa có ý nghĩa là hình phạt vừa có ý nghĩa là để ghi nhớ án tích của kẻ phạm tội. Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, dân chúng đã biết đến "Tư pháp lý lịch" Luận văn thạc sĩ Luật Học Qua đạo luật ngày 5-8-1899 "về Tư pháp lý lịch và phục quyền ". Sau đó, Tư pháp lý lịch đã được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong dụ số 14 do Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 1-9-1951. Đây có thể được coi là đạo luật thành văn đầu tiên của Việt Nam về Lý lịch tư pháp thay thế cho hình thức ghi nhớ hình phạt như trên của thời trung cổ.
Lý lịch tư pháp thành văn phổ biến nhất, đó là hình thức Sổ bộ ghi chép các bản án mà Toà án đã tuyên hàng năm. Căn cứ vào Sổ bộ của Toà án, người ta có thể truy tìm được án tích của một người nào đó. Tuy nhiên, hình thức sổ bộ vẫn còn những điểm hạn chế: Thứ nhất, Sổ bộ là cuốn sổ chung trong đó ghi chép án tích của nhiều người chứ không phải của riêng mỗi người. Hơn nữa, sổ bộ lại thay đổi theo từng năm (thường mỗi năm lại thay sổ mới).
Vì vậy, khi muốn tra cứu án tích một người nào đó ta phải lần tìm trong tất cả những quyển sổ bộ xem có án tích của người đó hay không. Điều này lại càng phức tạp, khó khăn hơn khi đương sự thay đổi chỗ ở dẫn tới thay đổi toà án có thẩm quyên xét xử. Tóm lại, trong trường hợp này, muốn không bỏ 8 sót án tích của một người thì phải tra cứu, tổng hợp có khi đến hàng trăm quyển Sổ bộ; Thứ hai, Sổ bộ thường chỉ ghi được những thông tin ban đầu (tức là những bản án và những quyết định ban đầu của Toà án) mà không có những thông tin bổ sung như: các quyết định về ân xá, xoá án tích, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án… Nói cách khác, những thông tin trong sổ bộ không phản ánh được diễn biến của can phạm trong quá trình thi hành bản án. Mặt khác, thông tin về tiền án không phải chỉ cần cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm mà các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội… cũng rất cần biết ở những mức độ khác nhau để hỗ trợ công tác nhân sự của cơ quan mình [21, tr.
Khắc phục những nhược điểm nói trên của hình thức Sổ bộ là sự ra đời của Luật Lý lịch tư pháp. Luật Lý lịch tư pháp đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17/6/2009 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010. Tại Khoản 1 Điều 2 Luật lý lịch tư pháp 2009 quy định: “Lý lịch tư Luận văn thạc sĩ Luật Học pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản”. Luật Lý lịch tư pháp là đạo luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến quyền của công dân và hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt Luật đã xác lập những nguyên tắc, nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, tạo cơ sở pháp lý có hiệu lực cao để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp ngày càng tăng của công dân, bảo đảm phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế.
Hình thức của Lý lịch tư pháp được thể hiện qua Phiếu Lý lịch tư pháp, đó là một loại phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp và có giá trị chứng minh có hay không có án tích, bị cấm hay không bị cấm thực hiện các công việc hay đảm nhiệm một chức vụ, quyền hạn liên quan đến hoạt động 9 kinh doanh do quyết định tuyên bố phá sản của tòa án. Khái niệm quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp Khái niệm “quản lý” được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thoả mãn nhu cầu hằng ngày của người dân [19, tr.
Với cách tiếp cận đó, “Quản lý lý lịch tư pháp” là sự tác động có ý thức của các chủ thể Luận văn thạc sĩ Luật Học được giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp (mang tính quyền lực nhà nước) lên đối tượng quản lý (là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực lý lịch tư pháp) nhằm chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của các chủ thể hướng đến mục đích quản lý lý lịch tư pháp và phù hợp với quy luật khách quan của các quan hệ lý lịch tư pháp. Theo quy định tại Điều 3 Luật Lý lịch tư pháp, mục đích quản lý lý lịch tư pháp là nhằm: “Đáp ứng yêu cầu cần chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản; Ghi nhận việc xoá án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hoà nhập cộng đồng; Hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự và Hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã”. Quản lý lý lịch tư pháp dựa trên ba nguyên tắc: Một là, Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự 10 của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của tổ chức và hoạt động lý lịch tư pháp.
Lý lịch tư pháp của một người chỉ được lập khi người đó bị Tòa án kết án bằng bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật.