Tổng quan luận án

Vi phạm hành chính (VPHC) là loại hành vi vi phạm pháp luật diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội. Mặc dù tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi này chưa đến mức cấu thành tội phạm hình sự, nhưng nếu không được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời thì đây là nguyên nhân tiềm ẩn trực tiếp làm phát sinh tội phạm. Hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) tại Việt Nam mang tính chất đa ngành, phức tạp với sự điều chỉnh của Luật XLVPHC năm 2012 cùng hơn 100 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước (QLNN). Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp báo cáo Chính phủ, số vụ xử phạt VPHC trung bình hàng năm thuộc thẩm quyền xử lý của ngành Công an nhân dân (CAND) chiếm tới 75% tổng số vụ việc trên phạm vi cả nước.

Chỉ tiêu thống kê (Theo báo cáo được trích dẫn trong luận án) Số liệu ghi nhận
Tỷ lệ trung bình hàng năm thuộc thẩm quyền ngành Công an Khoảng 75% tổng số vụ việc toàn quốc
Tổng số vụ VPHC phát hiện năm 2014 (theo văn bản) 4.626 vụ việc
Số quyết định xử phạt đã ban hành năm 2014 1.684 quyết định
Số quyết định đã thi hành xong năm 2014 116.522 quyết định
Tổng số tiền phạt thu được năm 2014 5.824 đồng
Số vụ VPHC do riêng ngành Công an phát hiện năm 2014 4.966 vụ

Các vi phạm diễn ra tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực an toàn giao thông và an ninh, trật tự, an toàn xã hội (TTATXH). Trước yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu có hệ thống về QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND là yêu cầu cấp thiết. Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thu Hiền với đề tài "Quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân" (Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Mã số: 9.02 / 9 38 01 02, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, năm 2021) được triển khai nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với XLVPHC.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, làm rõ các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại.
  3. Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLNN đối với XLVPHC nói chung và từ thực tiễn ngành CAND nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chỉ ra các vấn đề cần tiếp tục giải quyết qua hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp và các yếu tố bảo đảm QLNN đối với XLVPHC.
  3. Đánh giá thực trạng QLNN đối với XLVPHC trong ngành CAND, chỉ rõ các tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND trong tình hình mới.

Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

  • Giả thuyết nghiên cứu: QLNN đối với XLVPHC hiện còn tồn tại nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau; chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện gắn trực tiếp với thực tiễn ngành CAND. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với XLVPHC của lực lượng CAND là điều kiện tiên quyết để giữ vững kỷ cương quản lý hành chính, bảo vệ TTATXH và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Cơ sở lý luận của QLNN đối với XLVPHC là gì? Nội dung, phương pháp và các biện pháp bảo đảm QLNN đối với XLVPHC gồm những yếu tố nào?
    2. Thực trạng QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND diễn ra như thế nào và đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước ra sao?
    3. Những giải pháp nào cần được thực hiện để tăng cường QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND, cách thức triển khai cụ thể ra sao?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện QLNN đối với XLVPHC từ thực tiễn ngành CAND.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi một số ngành có chức năng QLNN đối với XLVPHC, trọng tâm là ngành CAND.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu và thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2010–2020.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quy định pháp luật và công tác tổ chức thực hiện QLNN đối với XLVPHC từ góc độ ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; đánh giá khái quát thực trạng của ngành CAND, không đi sâu vào từng lĩnh vực nghiệp vụ chuyên biệt.
  • Phạm vi chủ thể và nguồn số liệu: Chủ thể nghiên cứu là các cơ quan QLNN đối với XLVPHC thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp và ngành CAND. Nguồn số liệu chính được thu thập từ Cục Quản lý XLVPHC và theo dõi thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp), Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp (Bộ Công an) cùng các Cục nghiệp vụ thuộc ngành Công an có thẩm quyền XLVPHC.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan theo ba nhóm chủ đề:

1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về QLNN đối với XLVPHC

  • Sách chuyên khảo "Bước đầu tìm hiểu về QLNN về an ninh trật tự" của PGS. Nguyễn Duy Hùng và PGS.TS Hồ Trọng Ngũ (NXB CAND, 1997): Phân tích cơ sở lý luận, cơ chế điều chỉnh pháp luật, phương pháp, chủ thể, khách thể và các dự báo về công tác bảo đảm an ninh - trật tự.
  • Giáo trình "QLNN về an ninh trật tự" của Học viện Hành chính (NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2013): Cung cấp khung lý thuyết về hoạt động chấp hành - điều hành của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng bảo vệ an ninh quốc gia và TTATXH.

2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng của QLNN đối với XLVPHC

  • Sách "Thẩm quyền XLVPHC của CAND" do GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên (NXB Tư pháp, 2015): Phân tích quy định pháp luật thực định về thẩm quyền xử phạt, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế và biện pháp xử lý hành chính của lực lượng CAND.
  • Luận án tiến sĩ "Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của Đinh Phan Quỳnh (Học viện Khoa học xã hội, 2018): Khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật XLVPHC chuyên ngành giao thông.
  • Sách tham khảo "Tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012" do GS.TS Trần Đại Quang và GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên (NXB Lao động, 2014): Phân tích tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế XLVPHC theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
  • Các công trình nghiên cứu quốc tế: Cuốn "Nghiên cứu nguyên lý chứng cứ trong xử phạt hành chính" của Lý Hồng Phong (NXB Đại học Chính pháp Trung Quốc, 2013); Báo cáo "Về xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật của Cộng hòa Pháp" của M. RouGevin – Baville (Hội đồng Nhà nước Pháp) phân tích ba trường phái xử phạt hành chính (thực dụng, pháp chế, trung gian); Giáo trình "Luật Hành chính" của tác giả người Nga (phần thứ 8 về trách nhiệm hành chính và chủ thể đặc biệt).

3. Nhóm các công trình nghiên cứu các giải pháp về QLNN đối với XLVPHC

  • Đề tài khoa học cấp Bộ "Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự" do PGS.TS Đặng Anh làm chủ nhiệm (2009).
  • Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý nhà nước về thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thuộc chức năng của Công an nhân dân" do TS. Vũ Huy Khánh làm chủ nhiệm.
  • Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội" của Dương Thanh Liêm (Học viện Khoa học xã hội, 2019).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận theo từng mảng hoạt động riêng lẻ (như an toàn giao thông, an ninh trật tự đô thị, thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính) hoặc mới dừng lại ở việc bình luận điều luật cụ thể. Chưa có công trình nào đánh giá một cách tổng thể, có hệ thống trên phương diện lý luận và thực tiễn về hoạt động QLNN đối với XLVPHC từ góc độ thực tiễn của toàn ngành CAND — lực lượng gánh vác khối lượng công việc XLVPHC lớn nhất hiện nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Phương pháp luận chung: Sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
  • Quan điểm chỉ đạo: Các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII.
  • Khung lý thuyết chuyên ngành: Dựa trên khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, lý thuyết về quản lý hành chính nhà nước, chức năng chấp hành - điều hành, trách nhiệm pháp lý hành chính và cưỡng chế hành chính.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật, làm rõ các khái niệm khoa học (VPHC, XLVPHC, QLNN đối với XLVPHC) và khái quát các kết luận nghiên cứu.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Sử dụng đối chiếu các quy định pháp luật qua các thời kỳ (Pháp lệnh 1989, 1995, 2002; Luật XLVPHC 2012, Luật sửa đổi 2020), so sánh VPHC với tội phạm hình sự, tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài (Pháp, Trung Quốc, Nga).
  • Phương pháp thống kê, khảo sát, điều tra xã hội học: Thu thập, xử lý các số liệu thực tế về các vụ việc VPHC, kết quả xử phạt, thi hành quyết định xử phạt trong giai đoạn 2010–2020; khảo sát nhận thức và quan điểm của đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Phân tích xu hướng biến đổi của tình hình vi phạm pháp luật hành chính để xây dựng hệ thống giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp toàn bộ luận điểm, dữ liệu và quy phạm pháp luật theo trật tự logic chặt chẽ, bảo đảm tính nhất quán của đề tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

  • Phân nhóm toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài thành ba mảng: lý luận, thực trạng và giải pháp.
  • Đánh giá những kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu đi trước về việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an ninh trật tự.
  • Xác lập khoảng trống nghiên cứu: Thiếu công trình tổng kết toàn diện thực tiễn thi hành pháp luật XLVPHC của ngành CAND để khái quát thành hệ thống lý luận về QLNN đối với XLVPHC.
  • Xây dựng hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở triển khai các nội dung tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính

1. Lịch sử hình thành khái niệm Vi phạm hành chính trong pháp luật Việt Nam

Khái niệm vi phạm hành chính phát triển qua các giai đoạn lập pháp:

  • Thời kỳ trước năm 1989: Sử dụng thuật ngữ "vi cảnh" theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 ban hành kèm Điều lệ xử phạt vi cảnh. Vi cảnh được định nghĩa là những hành vi xâm phạm đến TTATXH có tính chất đơn giản, rõ ràng, hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng biện pháp hành chính khác. Hình thức xử phạt gồm: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày.
  • Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1989: Lần đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức: VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc QLNN mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
  • Pháp lệnh năm 1995, Pháp lệnh năm 2002: Lồng ghép định nghĩa VPHC vào khái niệm XLVPHC.
  • Luật XLVPHC năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020: "VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC".
  • Quan điểm học thuật của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt (2013): Tiếp cận VPHC dưới góc độ là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi, do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực thực hiện, xâm phạm trật tự QLNN, trật tự xã hội, sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà phải chịu trách nhiệm hành chính.

2. Dấu hiệu và Cấu thành của Vi phạm hành chính

Luận án xác định 4 dấu hiệu cơ bản:

  1. Dấu hiệu pháp định: Là hành vi trái pháp luật, vi phạm quy định về QLNN, tính nguy hiểm ở mức độ thấp, do các văn bản pháp luật về xử phạt VPHC quy định.
  2. Dấu hiệu vật chất: Phải là hành vi thực tế đã xảy ra (hành động hoặc không hành động), không chỉ nằm trong ý thức hay dự định.
  3. Dấu hiệu chủ thể: Do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện.
  4. Dấu hiệu tinh thần (lỗi): Người thực hiện có lỗi cố ý hoặc vô ý.

Cấu thành của VPHC gồm 4 yếu tố:

  • Khách thể: Các quan hệ xã hội về trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính bảo vệ trên các lĩnh vực đời sống.
  • Mặt khách quan: Biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi hành động (chủ động làm điều pháp luật cấm) hoặc không hành động (không làm điều pháp luật buộc phải làm khi có đủ điều kiện), cùng với thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện và mối quan hệ nhân quả với hậu quả thực tế.
  • Chủ thể: Cá nhân đạt độ tuổi luật định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; tổ chức là các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang được thành lập hợp pháp.
  • Mặt chủ quan: Thể hiện ở lỗi (cố ý hoặc vô ý) và trong một số trường hợp có thêm yếu tố mục đích vi phạm.

3. Tiêu chí phân biệt VPHC trong lĩnh vực TTATXH với Tội phạm

Luận án chỉ rõ 4 tiêu chí cốt lõi để phân biệt:

  • Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại: Tội phạm xâm hại các khách thể quan trọng quy định tại Bộ luật Hình sự (tính mạng, sức khỏe, tài sản lớn...); VPHC xâm phạm trật tự quản lý hành chính ở mức độ nguy hiểm thấp hơn.
  • Mức độ thiệt hại định lượng và tính chất hành vi: Cùng xâm hại một khách thể nhưng tội phạm đòi hỏi mức độ gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc hành vi có tính chất tái phạm ("đã bị xử phạt VPHC về hành vi này mà còn vi phạm").
  • Dấu hiệu thiệt hại thực tế so với nguy cơ: Tội phạm thường đòi hỏi hậu quả thiệt hại vật chất cụ thể được mô tả trong cấu thành tội phạm; đa số VPHC chỉ cần tiềm ẩn nguy cơ hoặc gây thiệt hại không đáng kể.
  • Hình thức văn bản quy phạm pháp luật quy định: Tội phạm chỉ được quy định duy nhất trong Bộ luật Hình sự; VPHC được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật, đặc biệt là các Nghị định của Chính phủ.

4. Khái niệm, Đặc điểm và Phương pháp Quản lý nhà nước đối với XLVPHC

  • Khái niệm QLNN: Luận án phân tích ở hai cấp độ. Cấp độ 1 (nghĩa rộng/phổ thông): Quản lý toàn bộ công việc nhà nước gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cấp độ 2 (nghĩa khoa học pháp lý): Hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước nhân danh công quyền, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
  • Khái niệm QLNN đối với XLVPHC: Là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước (cơ quan nhà nước hoặc chủ thể được trao quyền) trên cơ sở pháp luật tới các đối tượng tham gia quan hệ pháp luật hành chính nhằm duy trì trật tự, kỷ cương và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực XLVPHC.
  • Đặc điểm riêng có:
    • Về khách thể: Trật tự quản lý hành chính nhà nước, trạng thái xã hội ổn định, kỷ cương.
    • Về chủ thể: Gồm chủ thể đặc biệt (cơ quan, người có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước) và chủ thể thường (đối tượng bị xử lý vi phạm). Theo Điều 4 Luật XLVPHC 2012, chỉ Chính phủ mới có thẩm quyền quy định hành vi, hình thức xử phạt, mức phạt và thẩm quyền xử phạt trong từng lĩnh vực.
    • Về đối tượng: Điều chỉnh theo Điều 5 Luật XLVPHC 2012 (người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm do cố ý; từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm về mọi vi phạm; xử lý tổ chức; cá nhân, tổ chức nước ngoài; người thuộc lực lượng vũ trang).
  • Phương pháp QLNN đối với XLVPHC:
    • Phương pháp giáo dục, thuyết phục: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giải thích, vận động để đối tượng tự giác chấp hành.
    • Phương pháp cưỡng chế hành chính: Áp dụng bắt buộc bằng bạo lực nhà nước gồm: các hình thức xử phạt (cảnh cáo, phạt tiền, tước giấy phép/chứng chỉ, tịch thu tang vật/phương tiện, trục xuất); các biện pháp xử lý hành chính (giáo dục tại xã/phường/thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc); các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý (tạm giữ người, áp giải, tạm giữ tang vật/phương tiện, khám người, khám phương tiện/đồ vật, khám nơi cất giấu...); các biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế thi hành.
    • Phương pháp kinh tế: Tác động gián tiếp thông qua đòn bẩy kinh tế và quy định chế tài tài chính để định hướng hành vi.
  • Nội dung QLNN đối với XLVPHC: Xây dựng, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong thi hành pháp luật XLVPHC.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

  • Phân tích tình hình và đặc điểm quản lý thực tế của lực lượng CAND trong công tác đấu tranh phòng, chống VPHC trên các mặt công tác trọng điểm (CSGT, CSPCCC & CNCH, Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH...).
  • Khái quát thực trạng thi hành các quy định pháp luật về xử phạt VPHC, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và biện pháp xử lý hành chính thuộc thẩm quyền của CAND từ năm 2010 đến 2020.
  • Chỉ ra những ưu điểm đạt được trong việc giữ vững an ninh trật tự, đồng thời phân tích các hạn chế, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp dụng các biểu mẫu, quy trình, sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các lực lượng và nguyên nhân của những tồn tại đó.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính từ thực tiễn ngành Công an nhân dân

  • Đưa ra các dự báo khoa học về những yếu tố tác động đến tình hình trật tự an toàn xã hội và vi phạm hành chính trong bối cảnh mới.
  • Xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:
    1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về XLVPHC liên quan đến thẩm quyền, thủ tục của ngành CAND.
    2. Đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND trực tiếp thực hiện nhiệm vụ XLVPHC.
    3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và phòng ngừa sai phạm trong hoạt động XLVPHC.
    4. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác quản lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về QLNN đối với XLVPHC, chuẩn hóa các định nghĩa, dấu hiệu, cấu thành vi phạm, phương pháp quản lý và các yếu tố bảo đảm quản lý trong nhà nước pháp quyền.
  2. Xác lập hệ thống tiêu chí khoa học nhằm phân định rõ ràng giữa VPHC trong lĩnh vực TTATXH với tội phạm hình sự, góp phần khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ hành chính hoặc hành chính hóa quan hệ hình sự.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp

  1. Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng công tác QLNN đối với XLVPHC từ góc độ thực tiễn của ngành CAND giai đoạn 2010–2020.
  2. Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng cho các cơ quan lập pháp và cơ quan hành chính nhà nước trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện từ thể chế, tổ chức thực thi đến cơ chế giám sát nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của lực lượng CAND.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu tiếp cận ở góc độ tổng quát của ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính và khung thời gian thực tiễn 2010–2020, luận án chưa đi sâu phân tích chi tiết quy trình nghiệp vụ chuyên biệt của từng đơn vị cơ sở cấp xã/phường cũng như từng lĩnh vực đặc thù riêng lẻ trong ngành Công an.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản lý dữ liệu điện tử trong XLVPHC, các vấn đề pháp lý phát sinh từ việc chuyển đổi số, áp dụng phạt nguội qua hệ thống camera giám sát trên phạm vi toàn quốc và đánh giá tác động sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC (có hiệu lực từ ngày 01/01/2022) đi vào thực tiễn đời sống.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý: Là tài liệu tham khảo phục vụ quá trình hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, phân định thẩm quyền xử phạt của các chức danh trong lực lượng CAND.
  • Đối với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Luật Hành chính, Khoa học Quản lý nhà nước, Lý luận về bảo đảm an ninh trật tự tại các trường đại học, học viện khối ngành luật và các trường CAND.
  • Đối với cán bộ thực thi pháp luật: Cung cấp các phân tích lý luận và hướng dẫn thực tiễn về căn cứ xác định vi phạm, trình tự, thẩm quyền và biện pháp ngăn chặn hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "vi cảnh" và các hình thức xử phạt vi cảnh trong lịch sử pháp luật Việt Nam được quy định như thế nào?

Theo Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ xử phạt vi cảnh, phạm pháp vi cảnh là những hành vi xâm phạm đến TTATXH có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng biện pháp hành chính khác. Bốn hình thức xử phạt vi cảnh gồm: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 01 đến 03 ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày.

2. Định nghĩa VPHC theo quy định hiện hành và bốn dấu hiệu cơ bản của VPHC là gì?

Theo Luật XLVPHC năm 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020, VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC. Bốn dấu hiệu gồm: (1) Tính trái pháp luật hành chính (dấu hiệu pháp định); (2) Hành vi thực tế khách quan đã thực hiện (dấu hiệu vật chất); (3) Do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực thực hiện (dấu hiệu chủ thể); (4) Tính có lỗi cố ý hoặc vô ý (dấu hiệu tinh thần).

3. Những tiêu chí cơ bản nào được dùng để phân biệt VPHC trong lĩnh vực TTATXH với tội phạm?

Luận án chỉ ra 4 tiêu chí cốt lõi:

  • Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại (khách thể do luật hình sự hay luật hành chính bảo vệ).
  • Mức độ nguy hiểm và hậu quả thiệt hại định lượng (thiệt hại thực tế lớn hoặc tái phạm thì xử lý hình sự).
  • Dấu hiệu thiệt hại (tội phạm thường gắn với hậu quả vật chất cụ thể; VPHC chủ yếu là nguy cơ gây thiệt hại).
  • Hình thức văn bản pháp luật (tội phạm chỉ quy định trong Bộ luật Hình sự; VPHC quy định trong nhiều Nghị định của Chính phủ).

4. Phương pháp cưỡng chế trong QLNN đối với XLVPHC bao gồm các nhóm biện pháp cụ thể nào?

Phương pháp cưỡng chế hành chính gồm:

  • Các hình thức xử phạt VPHC: Phạt cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; trục xuất.
  • Các biện pháp xử lý hành chính: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC: Tạm giữ người theo thủ tục hành chính; áp giải; tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện; quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất; giao quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; truy tìm đối tượng bỏ trốn.
  • Các biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

5. Chủ thể QLNN đối với XLVPHC được phân chia thành những loại nào?

Gồm 2 loại chủ thể:

  • Chủ thể đặc biệt: Các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, tổ chức/cá nhân được Nhà nước trao quyền lực nhà nước để tiến hành quản lý, xử phạt, áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
  • Chủ thể thường: Bên không được sử dụng quyền lực nhà nước, có nghĩa vụ phục tùng sự quản lý và chấp hành các quyết định xử lý (đối tượng bị XLVPHC).

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thu Hiền đã làm sáng tỏ một cách toàn diện cơ sở lý luận của hoạt động quản lý nhà nước đối với xử lý vi phạm hành chính, gắn liền với vai trò nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân. Thông qua việc phân tích quá trình lập pháp, các yếu tố cấu thành vi phạm và thực tiễn thực thi pháp luật giai đoạn 2010–2020, công trình đã chỉ rõ những ưu điểm cũng như các khoảng trống, vướng mắc cần tháo gỡ. Hệ thống quan điểm và giải pháp được luận án đề xuất có tính đồng bộ, góp phần hoàn thiện thể chế quản lý hành chính, nâng cao hiệu lực xử lý vi phạm và củng cố kỷ cương pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.