Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực thông tin – truyền thông Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực thông tin – truyền thông trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực thông tin – truyền thông trên địa bàn Hà Nội 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG 1. Khái quát chung về quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật thông tin – truyền thông 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thông tin và truyền thông * Khái niệm, đặc điểm của thông tin Hiện nay chúng ta đang sống trong thời đại mà thuật ngữ thông tin được sử dụng và đề cập mọi lúc, mọi nơi như: Thông tin đại chúng, xã hội thông tin, công nghệ thông tin, thông tin phát thanh, thông tin truyền hình… Tuy nhiên khi nhắc đến thông tin, trong số mỗi chúng ta chưa chắc rằng ai cũng có thể cắt nghĩa một cách chính xác nhất về định nghĩa Thông tin là gì? Có thể nói, khái niệm thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học, cũng là khái niệm trung t m của xã hội trong kỷ nguyên số. Thông tin đã tổn tại từ rất l u và qua sự phát triển, tiến hóa của con người ngày nay chúng ta có rất nhiều cách hiểu về thông tin.
Thậm chí ngay các từ điển cũng không thể có một định nghĩa thống nhất. Ví dụ từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức. Một số từ điển khác thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức – Thông tin là điều mà người ta biết, hoặc thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người,… Nguyên nh n của sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này chính là do đặc điểm của thông tin là phi vật thể, không thể cầm nắm được. Người ta bắt gặp thông tin không chỉ trong quá trình hoạt động mà c n thông qua các tác động trừu trượng của nó.
Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông” của tác giả Philipe Breton, Serge Proulx, (Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1996), Từ Latin “Information”, 9 gốc của từ hiện đại “Information” (thông tin) cho rằng, thuật ngữ thông tin có thể hiểu theo hai hướng nghĩa: thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng; thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt. Tuy nhiên, cùng sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo.
Theo nghĩa thông thường: thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các kho dữ liệu hoặc từ tất cả các sự vật, hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Theo quan điểm triết học: thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Khi khoa học công nghệ phát triển đến trình độ cao, trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, thuật ngữ thông tin cũng có những cách hiểu khác nhau khi sử dụng trong từng lĩnh vực cụ thể.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông: Thông tin là đối tượng, là mục tiêu vận chuyển, đảm bảo tính chính xác của các thông điệp được truyền tải. Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng: Thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng. Trong lĩnh vực báo chí: Thông tin được dùng để nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả c u chuyện, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nh n tố của thực tại. Ví dụ khi ta sử dụng thông tin để nói về c u chuyện do nhà báo kể lại bao gồm một hoặc một số sự kiện liên kết thành.
10 Như vậy, cùng sử dụng thuật ngữ thông tin, nhưng khái niệm thông tin trong các môi trường, hoàn cảnh khác nhau lại mang những ý nghĩa khác nhau. Liên quan đến thuật ngữ “thông tin”, trong phạm vi luận văn này, có khái niệm liên quan là Công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin được hiểu là việc sử dụng tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là kỹ thuật máy tính và mạng viễn thông nhằm tạo ra, xử lý, truyền dẫn thông tin, lưu trữ và khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng nền tảng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc ph ng, an ninh và các hoạt động khác nhằm n ng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này (điểm 5, điều 4, Luật Công nghệ thông tin 2006).
* Khái niệm, đặc điểm của truyền thông Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi người trong xã hội. Do đó, đã có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về truyền thông được đưa ra tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Một số nhà lý luận về truyền thông cho rằng truyền thông chính là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng thông qua ngôn ngữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta.
Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống. Theo quan niệm của Dean C. Barnlund – một nhà nghiên cứu truyền thông người Anh cho rằng “Truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn” 11 Theo quan điểm của Frank Dance – Giáo sư về truyền thông học người Mỹ lại quan niệm: “Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người”. Có thể tháo rằng có rất nhiều định nghĩa về Truyền thông, mỗi định nghĩa, quan niệm đều có những khía cạnh hợp lý riêng nhưng chúng vẫn có những đặc điểm chung cơ bản về truyền thông và ta có thể tổng hợp đưa ra một khái niệm về Truyền thông như sau: “Truyền thông (communication) là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, kiến thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm,.
là một kiểu tương tác xã hội trong đó có ít nhất hai hoặc nhiều tác nhân tương tác lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, tổ chức, cộng đồng, xã hội” Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.
Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được.
Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu tượng là những thứ 12 chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia. Liên quan đến thuật ngữ “truyền thông”, trong phạm vi luận văn này, có khái niệm liên quan là Truyền thông đại chúng được hiểu là hoạt đồng truyền thông được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo giấy, báo điện tử, đài, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội,. hướng tới những nhóm công chúng lớn.
Đặc điểm của truyền thông là thông điệp được truyền tải đến công chúng một cách nhanh chóng, tuy nhiên đ y lại là hoạt động luôn chịu tác động và sự giám sát từ nhiều phía như: các hội, nhóm công chúng xã hội rộng lớn, các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước. Ngày nay, truyền thông có vai trò quan trọng tỏng việc hình thành, thể hiện dư luận xã hội. Sự tác động của các phương tiện truyền thông tác động lên các đối tượng khác nhau sẽ tạo ra những hiệu ứng, hiệu quả khác nhau do có sự khác biệt về địa vị xã hội, quyền lợi giai cấp, nhân tố t m lý và cường độ giao tiếp đối với các phương tiện truyền thông. Theo thuật ngữ, có nhiều cách hiểu/định nghĩa về thông tin và truyền thông.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, các nội dung của thông tin và truyền thông được quản lý gồm: báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin; phát thanh và truyền hình; thông tin điện tử; thông tin cơ sở và quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông). * Vai trò của thông tin truyền thông Thông tin và truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác 13 động đến hành động và ứng xử của công chúng.