Tổng quan luận án

Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Luật học với đề tài "Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân ở nước ta hiện nay" được tác giả Lê Thế Tiệm thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 1996, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Ngọc Đường và PGS. Phạm Tuấn Bình, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật.

Trong bối cảnh đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia theo tinh thần Hiến pháp năm 1992, nhiệm vụ bảo vệ trật tự an toàn xã hội (TTATXH) trở thành yêu cầu cấp thiết. Điều 12 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định nguyên tắc: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Đồng thời, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn: vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu, các mặt xã hội còn nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước (QLNN) trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là TTATXH.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù quản lý nhà nước và pháp luật đã được tiếp cận ở nhiều góc độ trong các khoa học pháp lý chuyên ngành, nhưng tính đến thời điểm năm 1996, chưa có một công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về việc tăng cường QLNN bằng pháp luật về TTATXH trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân (CSND) - chủ thể nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, nội dung và phương pháp tăng cường QLNN về TTATXH trong hoạt động của lực lượng CSND, từ đó đề xuất các phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong tình hình mới.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ về mặt lý luận những phạm trù cơ bản của QLNN bằng pháp luật về TTATXH; vai trò của pháp luật trong QLNN về TTATXH nói chung và trong hoạt động của lực lượng CSND nói riêng.
  2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng QLNN và sự điều chỉnh bằng pháp luật về TTATXH nói chung, đặc biệt là trong hoạt động của lực lượng CSND trên các lĩnh vực trọng điểm.
  3. Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật về TTATXH trong hoạt động của lực lượng CSND phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào hoạt động QLNN bằng pháp luật do lực lượng CSND tiến hành tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới (trọng tâm đến năm 1996). Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các lĩnh vực trật tự an toàn xã hội trọng điểm và phức tạp bao gồm: đấu tranh phòng chống tội phạm; phòng chống tệ nạn xã hội; quản lý hành chính về trật tự xã hội; trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị; an toàn phòng cháy, chữa cháy; giáo dục, cải tạo phạm nhân và công tác tổ chức, xây dựng lực lượng CSND.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

  • Nguồn tài liệu quốc tế và lý luận kinh điển:

    • Các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất quản lý xã hội, mối quan hệ giữa quản lý và quyền uy lao động (C. Mác, Tư bản, Tập 23; Ph. Ăng-ghen, Bàn về quyền uy; V.I. Lênin, Toàn tập, Tập 36 về nhiệm vụ quản lý đất nước sau Cách mạng Tháng Mười).
    • Các công trình của các học giả pháp lý Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, tiêu biểu là công trình của GS. N.I. Codubra và cộng sự (Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật XHCN, NXB Sự thật, Hà Nội, 1986) về các phạm trù "trật tự pháp luật" và "trật tự xã hội".
    • Các tài liệu, cơ chế pháp lý về hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm của các tổ chức quốc tế và khu vực như Interpol, Aseanapol.
  • Nguồn tư liệu và công trình nghiên cứu trong nước:

    • Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (lần thứ IV, VI, VIII) và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (như Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính).
    • Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh qua Sắc lệnh số 23 ngày 21/2/1946 thành lập Việt Nam Công an vụ, các văn bản chỉ đạo của Người về nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự các năm 1963, 1966 (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9, NXB Sự thật, 1989).
    • Các bài viết, công trình chuyên khảo của các nhà lãnh đạo, nghiên cứu pháp lý: Bùi Thiện Ngộ (Làm tốt công tác giữ gìn TTATXH trong tình hình mới, Tạp chí Cộng sản số 10/1993); Hồ Trọng Ngũ (Về khái niệm TTATXH, Tạp chí TTATXH số 1/1996); GS. Vũ Khiêu (Vấn đề đức trị và Pháp trị, Kỷ yếu khoa học của Tổng cục CSND, 1995); công trình Dự thảo Từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an (Viện Khoa học Công an, 1995).
    • Các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ do chính tác giả và các đồng nghiệp tại Tổng cục CSND thực hiện: Đề tài cấp Nhà nước KX.04 (Luận cứ khoa học đổi mới các chính sách xã hội nhằm đảm bảo an ninh xã hội và khắc phục các tệ nạn xã hội, Hà Nội, 1995); đề tài Thực trạng và dự báo tình hình TTATXH đến năm 2000 - Các giải pháp đổi mới công tác giữ gìn TTATXH (1995); Chiến lược bảo vệ TTATXH từ năm 1996 đến năm 2000 và một số năm tiếp theo (1996).

Vị trí của luận án được xác lập từ thực tiễn tác giả trực tiếp giữ trọng trách chỉ huy toàn lực lượng CSND, lãnh đạo công tác bảo vệ TTATXH. Luận án giải quyết khoảng trống trong việc tổng kết thực tiễn phong phú của lực lượng CSND dưới góc độ lý luận Nhà nước và Pháp luật, xây dựng một khung lý luận hoàn chỉnh về QLNN bằng pháp luật về TTATXH gắn liền với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án vận dụng các lý thuyết nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật và quản lý xã hội, đồng thời xây dựng một hệ thống các khái niệm chuyên ngành:

  • Bản chất của quản lý xã hội và quyền uy: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm phát triển phù hợp với quy luật khách quan và ý chí của chủ thể quản lý. Yếu tố quyền uy ("quyền lực - phục tùng") là tiền đề và phương thức cơ bản của quản lý xã hội. Luận án phân tích quản lý theo hai trạng thái:

    • Trạng thái "tĩnh": Cơ cấu gồm chủ thể (con người, cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động quản lý), khách thể (hành vi, hoạt động của đối tượng bị quản lý) và mối quan hệ quyền lực giữa chúng.
    • Trạng thái "động": Quản lý là một loại hoạt động chấp hành và điều hành, thể hiện qua mục đích, nhiệm vụ, phương pháp và hệ thống 8 chức năng cơ bản: (1) Dự báo; (2) Kế hoạch hoá; (3) Tổ chức; (4) Điều chỉnh; (5) Lãnh đạo; (6) Điều hành; (7) Phối hợp (điều hoà); (8) Kiểm tra.
  • Khái niệm Trật tự an toàn xã hội (TTATXH): Dựa trên 3 căn cứ lý luận (sản phẩm tất yếu của xã hội có nhà nước; trạng thái ổn định bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân; sự điều chỉnh của hệ thống quy phạm xã hội mà nòng cốt là pháp luật), tác giả định nghĩa:

    "TTATXH là trạng thái của các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước, quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một dân tộc, một nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại."

  • Phân định các khái niệm liên quan:

    • Trật tự xã hội và Trật tự pháp luật: Trật tự xã hội rộng hơn trật tự pháp luật. Trật tự xã hội tồn tại trong mọi hình thái xã hội do tất cả các quy phạm xã hội điều chỉnh, còn trật tự pháp luật là sản phẩm đặc thù của xã hội có giai cấp, có nhà nước và pháp luật. Trật tự an toàn xã hội là một bộ phận quan trọng của trật tự pháp luật.
    • An ninh quốc gia và TTATXH: An ninh quốc gia (theo nghĩa hẹp là an ninh chính trị) và TTATXH là hai mặt gắn bó hữu cơ của nền an ninh - trật tự. An ninh quốc gia giữ vai trò nền tảng, cơ bản nhất; ngược lại, sự ổn định của TTATXH là điều kiện tiên quyết để bảo vệ an ninh quốc gia, ngăn chặn các nguy cơ chuyển hóa từ vi phạm trật tự sang bất ổn chính trị.
    • An ninh xã hội: Được hiểu theo nghĩa rộng (sự yên ổn toàn diện của quốc gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa) và nghĩa hẹp (sự ổn định về trật tự kỷ cương, phòng ngừa tội phạm, bài trừ tệ nạn, thuộc phạm vi của TTATXH).
  • Định nghĩa QLNN bằng pháp luật về TTATXH trong hoạt động của CSND:

    "Là hoạt động chấp hành và điều hành của lực lượng CSND Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và bằng pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực bảo vệ TTATXH."

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

  • Phương pháp luận: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích hệ thống: Phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, thẩm quyền và mối quan hệ chỉ đạo hành chính trong lĩnh vực TTATXH.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (1946, 1956, 1962, 1981, 1989, 1992) và đối chiếu các mô hình lý luận Xô Viết, kinh nghiệm quốc tế.
    • Phương pháp thống kê và tổng hợp: Xử lý các tư liệu thực tiễn quản lý, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật.
    • Phương pháp nghiên cứu xã hội học pháp luật: Đánh giá ý thức pháp luật, tác động của quy tắc đạo đức ("đức trị") kết hợp với pháp luật ("pháp trị") trong hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Nguồn tư liệu: Các văn bản pháp lý quốc gia (Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Chính phủ 1992, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh Lực lượng CSND năm 1962 và 1989, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh Thi hành án phạt tù 1993, các Nghị định của Chính phủ: Nghị định 250-CP năm 1981, Nghị định 15/CP năm 1993); các văn kiện chỉ đạo của Đảng và báo cáo tổng kết ngành Nội vụ (Công an).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quản lý Nhà nước về TTATXH và vai trò của Pháp luật trong quản lý Nhà nước về trật tự an toàn xã hội

Chương 1 (từ trang 10 đến trang 61) tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước, TTATXH và làm rõ địa vị pháp lý, nguyên tắc tổ chức của lực lượng CSND.

Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước về TTATXH theo luận án:
- Trung ương: Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ) -> Bộ Nội vụ (Tổng cục CSND)
- Địa phương: UBND các cấp -> Cơ quan Công an (Sở/Phòng/Quận/Huyện/Xã)
- Cơ chế vận hành: Song trùng phụ thuộc (chịu sự chỉ đạo dọc về nghiệp vụ của ngành Công an và chỉ đạo ngang của chính quyền địa phương)
  1. Khái niệm và cơ cấu QLNN về TTATXH: Phân tích nội hàm TTATXH từ nguồn gốc lịch sử (từ Sắc lệnh 23 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Việt Nam Công an vụ). Xác lập cơ cấu QLNN theo 8 chức năng vận động (dự báo, kế hoạch hoá, tổ chức, điều chỉnh, lãnh đạo, điều hành, phối hợp, kiểm tra).

  2. Hệ thống chủ thể QLNN về TTATXH:

    • Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, nắm quyền hành pháp, thực hiện quyền kiến nghị lập pháp, quyền lập quy, quản lý, điều hành và chỉ đạo tập trung toàn bộ hệ thống bảo vệ TTATXH theo Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ 1992.
    • Bộ Nội vụ: Cơ quan thuộc Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và TTATXH. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền chuẩn bị dự án luật/pháp lệnh, ban hành văn bản quy phạm dưới luật, xây dựng chiến lược, quy hoạch, quản lý tài chính, hợp tác quốc tế và chỉ đạo thống nhất hệ thống CAND toàn quốc.
    • Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan Công an địa phương: Thực hiện chức năng QLNN theo lãnh thổ. Cơ quan Công an địa phương (Sở Công an tỉnh/thành phố, Công an quận/huyện) hoạt động theo nguyên tắc "song trùng phụ thuộc", trong đó chỉ đạo theo ngành dọc của Bộ Nội vụ giữ vai trò chủ yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật.
  3. Lịch sử tổ chức và các binh chủng của lực lượng CSND:

    • Quá trình chuyển đổi từ lực lượng mang tính chất "militia" (việc binh tự vệ thời chiến) sang cơ quan công quyền chuyên nghiệp ("politeia" - quản lý công việc quốc gia bảo vệ an toàn công cộng).
    • Lịch sử phát triển tên gọi và tổ chức qua các mốc văn bản: Nghị định 14 (19/1/1946), Sắc lệnh 23-SL (21/2/1946), Nghị định 219-NĐ (5/4/1948), Sắc lệnh 141-SL (16/2/1953), Nghị định 982/TTg (28/7/1956), Sắc lệnh 34/LCT (20/7/1962 - Pháp lệnh CSND đầu tiên), Nghị định 250-CP (12/6/1981 - thành lập Tổng cục CSND thuộc Bộ Nội vụ), Pháp lệnh Lực lượng CSND (11/2/1989).
    • Hệ thống 9 binh chủng chuyên ngành của lực lượng CSND: (1) Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; (2) Cảnh sát hình sự; (3) Cảnh sát kinh tế; (4) Cảnh sát điều tra; (5) Cảnh sát giao thông - trật tự; (6) Cảnh sát bảo vệ; (7) Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy; (8) Cảnh sát quản lý và cải tạo phạm nhân; (9) Interpol Việt Nam.
Binh chủng CSND Chức năng, nhiệm vụ cơ bản
Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH Đăng ký hộ khẩu, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, ngành nghề kinh doanh đặc biệt, con dấu, trật tự công cộng.
Cảnh sát Hình sự Phòng ngừa, phát hiện, điều tra khám phá tội phạm hình sự, triệt phá băng ổ nhóm lưu manh, cướp có vũ trang.
Cảnh sát Kinh tế Đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, xâm phạm tài sản XHCN.
Cảnh sát Điều tra Thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, điều tra các vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cảnh sát Giao thông - Trật tự Tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, chỉ huy điều khiển giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không.
Cảnh sát Bảo vệ Bảo vệ mục tiêu trọng điểm, áp giải can phạm, bảo vệ phiên tòa, hỗ trợ cưỡng chế thi hành án.
Cảnh sát Phòng cháy & Chữa cháy Tuyên truyền phòng ngừa cháy nổ, kiểm tra an toàn PCCC, tổ chức cứu nạn, chữa cháy và điều tra nguyên nhân cháy.
Cảnh sát Quản lý & Cải tạo phạm nhân Quản chế, giam giữ, tổ chức lao động sản xuất, dạy nghề, giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam.
Interpol Việt Nam Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, điều tra và dẫn độ tội phạm xuyên quốc gia.
  1. Nội dung, nguyên tắc và đặc trưng của QLNN bằng pháp luật của CSND:
    • Hai nội dung cơ bản: Một là, trực tiếp tiến hành các hoạt động nghiệp vụ và tố tụng hình sự (bắt, giữ, giam, khởi tố, điều tra) gắn chặt với yêu cầu tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Hai là, trực tiếp bảo vệ pháp luật bằng tính gương mẫu, công minh, kiên quyết xử lý mọi vi phạm, kết hợp chặt chẽ giữa "pháp trị" và "đức trị".
    • Năm nguyên tắc hoạt động: (1) Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; (2) Nguyên tắc pháp chế XHCN; (3) Nguyên tắc công bằng; (4) Nguyên tắc nhân đạo; (5) Nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp giữa tính chất lực lượng vũ trang (sử dụng bạo lực trực tiếp đúng mức, hợp pháp) và tính chuyên môn hành chính công quyền.

Chương 2: Thực trạng QLNN bằng pháp luật về TTATXH nói chung và trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân

Chương 2 (từ trang 62 đến trang 111) phân tích thực trạng thực thi pháp luật và hiệu quả quản lý của lực lượng CSND trên 7 nhóm lĩnh vực hoạt động:

  1. Thực trạng trong đấu tranh phòng chống tội phạm (trang 73): Đánh giá việc áp dụng Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự trong trấn áp tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu và tội phạm hình sự nguy hiểm; chỉ ra những điểm còn vướng mắc trong quy trình điều tra và sự phối hợp liên ngành tư pháp.
  2. Thực trạng trong phòng chống tệ nạn xã hội (trang 78): Phân tích công tác đấu tranh ngăn chặn ma túy, mại dâm, cờ bạc trong khuôn khổ các Chương trình quốc gia; đánh giá sự phối hợp giữa lực lượng Công an với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Văn hóa - Thông tin trong chữa trị, cai nghiện và giáo dục.
  3. Thực trạng trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội (trang 85): Khảo sát thực tế quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, đăng ký tạm trú, quản lý ngành nghề kinh doanh đặc biệt (đặc doanh), quản lý vũ khí, vật liệu nổ, con dấu và quản lý người nước ngoài tại các đô thị và địa bàn trọng điểm.
  4. Thực trạng về trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị (trang 92): Đánh giá tình hình tai nạn giao thông, vi phạm trật tự công cộng trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy; phân tích những bất cập trong phân cấp chỉ huy, hệ thống biển báo, quy định xử phạt vi phạm hành chính và ý thức chấp hành luật của người dân.
  5. Thực trạng về phòng cháy và chữa cháy (trang 99): Đánh giá hiệu lực các văn bản pháp quy về an toàn PCCC tại các khu công nghiệp, chợ, khu dân cư tập trung và bảo vệ rừng; mức độ đáp ứng về phương tiện kỹ thuật và công tác kiểm tra, điều tra nguyên nhân cháy nổ.
  6. Thực trạng trong giáo dục, cải tạo phạm nhân (trang 104): Đánh giá việc triển khai Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993, việc thực hiện chế độ quản chế, giam giữ gắn với chương trình dạy văn hóa, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất hướng tới xã hội hóa công tác tái hòa nhập cộng đồng.
  7. Thực trạng tổ chức, xây dựng lực lượng CSND (trang 109): Phân tích cơ cấu biên chế, trình độ nghiệp vụ và kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CSND; chỉ ra những bất cập về chế độ chính sách đãi ngộ, trang bị phương tiện kỹ thuật và những biểu hiện vi phạm kỷ luật, thiếu gương mẫu ở một bộ phận cơ sở.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân

Chương 3 (từ trang 112 đến trang 171) luận giải tính tất yếu và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác QLNN bằng pháp luật:

Hệ thống 4 nhóm giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật về TTATXH:
1. Xác định phương hướng chung: Bám sát đường lối đổi mới của Đảng và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền.
2. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật: Bổ sung, sửa đổi Luật/Pháp lệnh chuyên ngành, chuẩn hóa quy trình tố tụng.
3. Đổi mới cơ chế quản lý: Phân định rõ thẩm quyền, tăng cường phối hợp liên ngành, cải cách thủ tục hành chính.
4. Kiện toàn tổ chức lực lượng CSND: Đào tạo chuyên sâu, hiện đại hóa phương tiện nghiệp vụ, hoàn thiện chính sách đãi ngộ.
  1. Đòi hỏi tất yếu của việc tăng cường QLNN bằng pháp luật:

    • Bắt nguồn từ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng tại Đại hội VIII, chuyển từ phương thức quản lý hành chính bao cấp sang quản lý bằng pháp luật, nâng cao pháp chế XHCN.
    • Bắt nguồn từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, đòi hỏi mọi hoạt động của lực lượng công quyền, đặc biệt là việc sử dụng vũ lực và các biện pháp cưỡng chế của CSND, phải được quy định chặt chẽ, minh bạch bằng luật.
  2. Bốn nhóm giải pháp cụ thể:

    • Phương hướng chung: Nâng cao năng lực dự báo, xây dựng chiến lược tổng thể bảo vệ TTATXH kết hợp sức mạnh của cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân.
    • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TTATXH: Sửa đổi, bổ sung và ban hành đồng bộ các đạo luật, pháp lệnh về phòng chống tội phạm, quản lý an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy, thi hành án hình sự; khắc phục tình trạng văn bản chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành.
    • Đổi mới cơ chế QLNN về TTATXH: Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, xác định rõ thẩm quyền cá nhân người đứng đầu; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành (Gia đình - Nhà trường - Xã hội và Công an - Quân đội - Viện Kiểm sát - Tòa án - các Bộ ngành); đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các khâu đăng ký hộ khẩu, quản lý xuất nhập cảnh, cấp phép ngành nghề.
    • Đổi mới tổ chức và hoạt động của lực lượng CSND: Kiện toàn bộ máy tinh gọn, chính quy; chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ, đổi mới chương trình đào tạo tại các trường Công an nhân dân theo hướng chuyên sâu về kiến thức pháp lý và khoa học quản lý; hiện đại hóa trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ; thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần tương xứng nhằm ngăn ngừa tiêu cực.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp mới về mặt lý luận:

    • Lần đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam, luận án hình thành một hệ thống khái niệm, phạm trù hoàn chỉnh về "Trật tự an toàn xã hội", "Quản lý nhà nước bằng pháp luật về TTATXH trong hoạt động của CSND", phân định ranh giới và mối quan hệ bản chất giữa TTATXH với "Trật tự pháp luật", "Trật tự xã hội", "An ninh quốc gia" và "An ninh xã hội".
    • Làm rõ vị trí, vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ trung tâm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực an ninh - trật tự, xác định giới hạn pháp lý bắt buộc đối với việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, cưỡng chế vũ lực của lực lượng vũ trang nhân dân.
    • Xây dựng khung phân tích cấu trúc quản lý nhà nước về TTATXH dựa trên 8 chức năng vận động (dự báo, kế hoạch hoá, tổ chức, điều chỉnh, lãnh đạo, điều hành, phối hợp, kiểm tra).
  2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

    • Đánh giá một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động của lực lượng CSND Việt Nam qua 10 năm đầu đổi mới (1986–1996) trên 7 lĩnh vực nghiệp vụ chuyên sâu.
    • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ thể chế lập pháp, cơ chế điều hành hành chính đến đổi mới tổ chức, biên chế, trang bị và đào tạo lực lượng CSND, phục vụ trực tiếp cho công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào phạm vi QLNN do ngành Cảnh sát nhân dân tiến hành tại Việt Nam trong khuôn khổ các lĩnh vực TTATXH trọng điểm (phòng chống tội phạm, tệ nạn, trật tự hành chính, giao thông, PCCC, cải tạo phạm nhân), chưa đi sâu vào toàn bộ các chủ thể quản lý nhà nước khác hoặc các khía cạnh thuộc lĩnh vực an ninh chính trị thuần túy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về TTATXH trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hơn và sự gia tăng của các loại tội phạm xuyên quốc gia (mở rộng hợp tác qua Interpol, Aseanapol).
    • Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào từng chức năng quản lý cụ thể (đặc biệt là chức năng dự báo và kế hoạch hóa) của lực lượng CSND trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

Giá trị tham khảo

Luận án là nguồn tư liệu khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao, hữu ích đối với các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên: Là tài liệu tham khảo nền tảng trong giảng dạy và nghiên cứu các môn học Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hành chính, Khoa học Quản lý nhà nước tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia, các trường Đại học Luật và các học viện, trường Đại học Công an nhân dân.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật, pháp lệnh về an ninh trật tự, thi hành án hình sự, tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách hành chính.
  • Cán bộ chỉ huy, quản lý trong lực lượng CAND: Cung cấp phương pháp luận và hệ thống các chức năng quản lý, nguyên tắc pháp chế để chỉ đạo, điều hành công tác nghiệp vụ, giữ gìn kỷ cương xã hội và nâng cao phẩm chất người chiến sĩ CSND.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm Trật tự an toàn xã hội được tác giả định nghĩa dựa trên những căn cứ lý luận nào?
Tác giả xác lập khái niệm TTATXH dựa trên 3 căn cứ: (1) TTATXH là sản phẩm tất yếu của một xã hội có nhà nước, phản ánh bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân; (2) Là kết quả của một trạng thái xã hội ổn định vững vàng, trong đó các quyền của công dân được tôn trọng và bảo vệ; (3) Được điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật, quy phạm chính trị, đạo đức, trong đó quy phạm pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

2. Quản lý Nhà nước về TTATXH theo trạng thái "động" bao gồm những chức năng cơ bản nào?
Theo luận án, cơ cấu QLNN về TTATXH ở trạng thái động gồm 8 chức năng cơ bản có mối quan hệ hệ thống chặt chẽ với nhau: (1) Chức năng dự báo (chế báo); (2) Chức năng kế hoạch hoá; (3) Chức năng tổ chức; (4) Chức năng điều chỉnh; (5) Chức năng lãnh đạo; (6) Chức năng điều hành; (7) Chức năng phối hợp (điều hoà); (8) Chức năng kiểm tra.

3. Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam bao gồm những binh chủng chuyên ngành nào?
Lực lượng CSND Việt Nam bao gồm 9 binh chủng: Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát điều tra, Cảnh sát giao thông - trật tự, Cảnh sát bảo vệ, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Cảnh sát quản lý và cải tạo phạm nhân, và Interpol Việt Nam.

4. Hai nội dung cơ bản của QLNN bằng pháp luật của lực lượng CSND là gì?
Nội dung thứ nhất là trực tiếp tiến hành các hoạt động phòng chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội, trật tự giao thông, PCCC, thực hiện tố tụng hình sự (bắt, giam, giữ, điều tra) gắn với việc tôn trọng, bảo vệ quyền cơ bản của công dân. Nội dung thứ hai là trực tiếp bảo vệ pháp luật thông qua sự gương mẫu, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm, kết hợp chặt chẽ giữa "pháp trị" và "đức trị".

5. Mối quan hệ giữa "Trật tự xã hội", "Trật tự pháp luật" và "Trật tự an toàn xã hội" được luận án phân định ra sao?
Trật tự xã hội là phạm trù rộng nhất, tồn tại trong mọi xã hội và do toàn bộ các quy phạm xã hội (đạo đức, tập quán, chính trị, pháp luật) điều chỉnh. Trật tự pháp luật là một bộ phận của trật tự xã hội, chỉ tồn tại trong xã hội có nhà nước và pháp luật, là kết quả của việc thực hiện pháp chế. Trật tự an toàn xã hội là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng của trật tự pháp luật.


Kết luận

Luận án của tác giả Lê Thế Tiệm là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ tiến sĩ, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam. Bằng việc phân tích hệ thống 8 chức năng quản lý, địa vị pháp lý của bộ máy nhà nước và 9 binh chủng cảnh sát, luận án đã đánh giá toàn diện thực trạng thực thi pháp luật trong 10 năm đầu đổi mới (1986–1996). Hệ thống các phương hướng và giải pháp do luận án đề xuất đã đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện lý luận ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực quản lý của lực lượng CSND trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam.