Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Quan niệm quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm hôn nhân có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm hôn nhân có yếu tố nước ngoài Hôn nhân trước hết là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà.
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giữa những người khác giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó thể hiện trọng việc sinh đẻ, nuôi nấng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất Luận văn thạc sĩ Luật Học trong đời sống hàng ngày.
Vai trò và ý nghĩa này của hôn nhân đều có trong xã hội. Hơn nữa ở xã hội nào mà các quan hệ hôn nhân được coi là quan hệ pháp luật thì sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà là hình thức các quan hệ đó mang ý nghĩa như một sự kiện pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định cho các bên vợ và chồng. Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ lợi ích giai cấp của mình. Rõ ràng hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp.
Ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và tương ứng với nó là chế độ hôn nhân nhất định như ở xã hội phong kiến có hôn nhân phong kiến, ở xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, ở xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa [26]. Theo quy định của pháp luật hiện hành tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Theo cách hiểu này, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng được xác lập từ thời điểm kết hôn đến truớc khi chấm dứt quan hệ hôn nhân. Hành vi kết hôn là hành 7 vi làm phát sinh quan hệ hôn nhân.
Do đó để phát sinh quan hệ hôn nhân nam và nữ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và phải đăng ký kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ khái niệm về hôn nhân chúng ta có thể thấy được những đặc trưng của hôn nhân bao gồm các nội dung như: - Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ. - Hôn nhân là sự liên kết trên cơ sở tự nguyện của hai bên nam và nữ. - Cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ và hạnh phúc.
- Các bên tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc bình đẳng và hoàn toàn tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ và hạnh phúc. Với chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các Luận văn thạc sĩ Luật Học nước trên thế giới. Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài của nước ta ngày càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp cả về bề rộng lẫn bề sâu.
Việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp bách, quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền, lợí ích hợp pháp của công dân nước mình và công dân của các nước có liên quan khi tham gia vào quan hệ hôn nhân ở Việt Nam, tại chương VIII Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định riêng để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như Luật hôn nhân và gia đình (1959,1986, 2000 và đến nay là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) không đưa ra khái niệm hay định nghĩa riêng về hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Mà chỉ nêu lên khái niệm về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 25 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là “Quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân 8 Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Trong đó, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch [31]. Người Việt Nam định cư tại nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam, đang làm ăn cư trú, sinh sống tại nước ngoài (Nghị định 138/2006/NĐ-CP). Lưu ý, theo như luật quốc tịch thì “Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài [33]. Đặc điểm của hôn nhân có yếu tố nước ngoài Cũng như quan hệ hôn nhân trong nước, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cũng có những đặc điểm tương tự, ngoài những đặc điểm chung thì quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài còn mang những đặc điểm riêng của nó.
Luận văn thạc sĩ Luật Học Đối tượng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài, các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về “ yếu tố nước ngoài ” trong quan hệ hôn nhân ở Việt Nam ‘‘yếu tố nước ngoài” được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong luật có nêu rõ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn và ly hôn: + Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; + Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; + Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, theo các quy định trên, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có thể hiểu là quan hệ hôn nhân có những đặc điểm cơ bản sau: 9 Yếu tố chủ thể: Cơ sở pháp lý quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là vấn đề của các bên khi tham gia vào quan hệ này.
Quốc tịch được hiểu là sự lệ thuộc của cá nhân vào một nhà nước nhất định và đây cũng là cơ sở pháp lý để cá nhân được hưởng quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước mà họ mang quốc tịch. Khi công dân Việt Nam tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì đòi hỏi công dân đó phải có năng lực chủ thể, tức là cá nhân đó phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực chủ thể là đặc trưng không thể thiếu được khi chủ thể muốn tham gia vào quan hệ pháp luật. Vấn đề năng lực chủ thể, trong lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài của công dân Việt Nam trước tiên được xác định trên cơ sở của pháp luật Việt Nam, cụ thể là được quy định trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015.
Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì người nước ngoài cũng là một chủ thể quan trọng trong quan hệ nay. Luận văn thạc sĩ Luật Học Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch. Để được tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người nước ngoài đó cũng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi mà việc xác định năng lực chủ thể này trước tiên là phụ thuộc vào pháp luật mà họ mang quốc tịch. Trường hợp, người nước ngoài là người không có quốc tịch thì việc xác định năng lực này phụ thuộc vào pháp luật nước mà người đó cư trú và cũng theo các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam thì cho rằng người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [30].
Ngoài năng lực pháp luật ra thì người nước ngoài muốn tham gia vào quan hệ hôn nhân thì họ cần phải có năng lực hành vi. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 cho thấy, pháp luật Việt Nam đã sử dụng chủ yếu nguyên tắc Luật Quốc tịch để xác định năng lực hành vi của người nước ngoài. Tuy nhiên, 10 trong một số trường hợp năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài còn được xác định theo pháp luật dân sự Việt Nam. Yếu tố khách thể: Là lợi ích các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Bao gồm: Quốc tịch, tài sản, quyền làm cha, mẹ,… Tuy nhiên, khi đề cập đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì phần lớn “khách thể” trong quan hệ này được xác định là tài sản.