Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DU LỊCH 1. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các loại hình và vai trò của du lịch 1. Các công trình nghiên cứu đề cập các loại hình du lịch Trong Du lịch toàn cầu - Thập kỷ tới (Global Tourism - The next decade) của tác giả William Theobald [149] đã giới thiệu về khái niệm và phân loại du lịch.
Du lịch bao gồm hai yếu tố là hành trình tới đích và ở. Du lịch là một khoảnh khắc ngắn hạn tạm thời của những người ở các điểm đến ngoài nơi cư trú của họ. Du lịch được thực hiện để giải trí, ngắm cảnh, hành hương vì lý do y tế, phiêu lưu vv… Bài viết này đã đề cập tới các loại hình du lịch: Du lịch giải trí, du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch dân tộc, du lịch văn hoá, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, du lịch tôn giáo, du lịch âm nhạc, du lịch cộng đồng. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, tùy theo mục đích của du khách mà có thể phân loại thành nhiều hình thức du lịch khác nhau.
Theo thống kê trên wikipedia có tới 78 hình thức du lịch. Có thể đưa ra một số các giải thích, định nghĩa về một vài kiểu loại hình du lịch: Du lịch giải trí là đi đến một nơi rất khác với cuộc sống thường nhật để thư giãn và vui chơi. Du lịch văn hóa là đi đến một địa điểm cụ thể với mục đích để tìm hiểu lịch sử và văn hóa ở nơi đó. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Hector Ceballos- Lascurain, một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh thái đã định nghĩa: Du lịch sinh thái là đến những khu vực ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộng với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới 10 động - thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này [127, tr. Còn theo Hiệp hội Du lịch sinh thái (The International Ecotourism society): Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương [127, tr. Du lịch kinh doanh là đi du lịch nhưng liên quan đến hoạt động kinh doanh. Du lịch y tế là tìm kiếm cách điều trị đặc biệt, cách xa nhà, đi nơi khác.
Du lịch giáo dục là du lịch có mục đích là học ngôn ngữ và văn hóa hay lịch sử của các nước hay thành phố khác ở nơi đến. Ngoài ra còn có các bài viết khác cũng bàn về các loại hình du lịch như: Du lịch mạo hiểm, du lịch kinh doanh, du lịch sinh nở, du lịch ẩm thực, du lịch văn hóa, du lịch đen, du lịch thiên tai, du lịch sinh thái, du lịch y tế, du lịch biển, du lịch tôn giáo, du lịch tình dục, du lịch khu ổ chuột, du lịch không gian, du lịch thể thao, du lịch ảo, du lịch chiến tranh, …. Các công trình nghiên cứu đề cập vai trò của du lịch Priya Chetty, Advantages of demand forecast for the tourism industry, English Về vai trò của du lịch, Salvo Creaco [143] cho rằng: Du lịch bây giờ là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất. Đối với nhiều quốc gia, du lịch được coi là một công cụ chính cho sự phát triển của khu vực vì nó kích thích các hoạt động kinh tế mới.
Du lịch có thể có tác động tích cực về kinh tế đối với cán cân thanh toán, về việc làm, thu nhập và sản xuất, nhưng cũng có thể có những tác động tiêu cực, đặc biệt đối với môi trường.- Chủ tịch Đối tác quốc tế thì khẳng định: Du lịch là phương tiện chuyển giao của cải tự nhiên lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo… Khoản tiền do du khách mang lại cho các khu vực còn nghèo khổ còn lớn hơn viện trợ chính thức của các chính phủ. Priya Chetty, Advantages of demand forecast for the tourism industry, English [143]. Về vai trò dự báo phát triển du lịch, Priya Chetty khẳng định: "Dự báo phát triển du lịch có giá trị kinh tế lớn đối với cả khu vực công và 11 khu vực tư nhân. Bất kỳ thông tin liên quan đến sự tiến triển trong tương lai của dòng chảy du lịch là rất quan trọng đối với khách sạn, nhà điều hành tour du lịch và các ngành công nghiệp khác liên quan đến du lịch"; v.v William Theobald, Du lịch toàn cầu - Thập kỷ tới (Global Tourism - The next decade) [149] đã bàn về vai trò du lịch đối với hòa bình thế giới.
Tác giả đã làm rõ du lịch là một trong những nguồn lực lớn thúc đẩy nền hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau.Medlik [145] đề cập về khái niệm sản phẩm, sự cạnh tranh trong ngành hàng không, sự quảng bá sản phẩm và điểm đến, sự quản lý du lịch, giới hạn cũng như thách thức đối với ngành du lịch. Mechthild Kuellmer (2007), Economic Success of Tourism, Muenster University [141], cho rằng du lịch là một trong những ngành phát triển nhanh nhất trên thế giới ngày nay. Nghiên cứu này khảo sát sự thành công kinh tế du lịch ở hai nước Peru, Bồ Đào Nha và cho rằng du lịch tùy thuộc vào hành chính công, đó là lý do tại sao nó là một chủ đề quan trọng. Các nghiên cứu của điều tra bao gồm đóng góp của du lịch vào nền kinh tế của đất nước cùng với chiến lược tiếp thị, cũng như những vấn đề liên quan đến du lịch.
Những phát hiện này bao gồm QLNN về du lịch trong quốc gia, các bằng chứng về sự thành công kinh tế từ hoạt động du lịch, và hơn nữa phát triển các nguồn khách hàng tiềm năng của du lịch đối với nền kinh tế. Các công trình nghiên cứu đề cập kinh tế du lịch Trần Văn Mậu (2001), Tổ chức phục vụ các dịch vụ du lịch, theo tác giả Robert Lanquar [106] kinh tế du lịch đó là ngành công nghiệp vì toàn bộ hoạt động nhằm khai thác các của cải của du lịch, nhằm biến các tài nguyên nhân lực, tư bản và nguyên liệu thành dịch vụ và sản phẩm. Đồng thời, tác giả cuốn sách đã giới thiệu những vấn đề về yêu cầu, sự tiêu dùng của du lịch, sản xuất cho du lịch, đầu tư du lịch. Reece, [148], Kinh tế du lịch (The Economics of Tourism) tác giả sử dụng phân tích kinh tế hiện đại để giúp người đọc hiểu được ngành công nghiệp du lịch, làm thế nào để hiểu được hành vi thị trường du lịch, đề cập đến thay đổi kỹ 12 thuật vì nó liên quan tới việc điều chỉnh mô hình kinh doanh và chiến lược, giải thích rõ ràng về quản lý doanh thu.
John Ward, Phil Higson và William Campbell trong nghiên cứu "Giải trí và Du lịch (Leisure and Tourism)" [138] đã nghiên cứu về ngành công nghiệp du lịch và giải trí thông qua việc phân tích các hình mẫu và xu hướng, các sản phẩm và dịch vụ trong ngành du lịch và giải trí cũng như các tác động của nó đến kinh tế, xã hội, văn hóa hay môi trường. Susan [146] đưa ra khái niệm và phân tích nguồn gốc của ngành thương mại giải trí và du lịch, trong đó tác giả nêu ra các tên gọi đa dạng được sử dụng để miêu tả về ngành thương mại giải trí và du lịch; miêu tả sứ mệnh của ngành này; giải thích sự khác biệt giữa sản phẩm và dịch vụ; giới thiệu những địa điểm mà thương mại giải trí và du lịch có thể diễn ra; giới thiệu các cơ hội nghề nghiệp cho các ứng viên tốt nghiệp ngành này. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến vấn đề quản lý và tổ chức sự kiện, vấn đề về lưu trú; thực phẩm và đồ uống, vấn đề quản lý nghề nghiệp, đồng thời cuốn sách cũng phân tích về các ngành công nghiệp có tính chất tương đồng. Đỗ Cẩm Thơ Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, [122], các tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh sản phẩm du lịch; Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam theo 2 tiêu chí: cấu thành sản phẩm chung của điểm đến và sản phẩm theo các loại hình du lịch.
Các tác giả cũng đã đề xuất khái niệm sản phẩm du lịch tổng thể và mô hình 10 tiêu chí đánh giá so sánh cạnh tranh sản phẩm du lịch bao gồm: i) Tính hấp dẫn và độc đáo của tài nguyên du lịch; ii) Tính đa dạng của dịch vụ du lịch; iii) Chất lượng sản phẩm du lịch; iv) Tổ chức xây dựng sản phẩm du lịch; v) Đầu tư xúc tiến sản phẩm du lịch; vi) Giá sản phẩm du lịch; vii) Khả năng tiếp cận sản phẩm; viii) Thương hiệu sản phẩm du lịch; ix) Chu kỳ sống của sản phẩm du lịch; x) Yếu tố đặc biệt của sản phẩm du lịch. Đề tài còn đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu góp phần tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm du lịch Việt Nam trên thị trường trong thời hạn ngắn; đồng thời, đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cho thời hạn dài hơn. 13 Hoàng Thị Ngọc Lan, Thị trường du lịch tỉnh Hà Tây, [98]. xác định cầu du lịch là bộ phận nhu cầu xã hội có khả năng thanh toán về dịch vụ hàng hóa, đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời của du khách ngoài nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích du lịch Bài viết "Một số vấn đề nên quan tâm trong sự phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng" của tác giả Ăm Pay Số La Thí [44].
Tác giả đưa ra quan niệm về du lịch cộng đồng như một phương thức phát triển du lịch bền vững. Du lịch cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp của dân trong hoạt động du lịch; phân tích các nguyên tắc đặc điểm của du lịch cộng đồng, vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển cộng đồng, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch và phát triển kinh tế du lịch theo hướng bền vững. Bài viết "Xúc tiến du lịch ở tỉnh Khăm Muôn" của tác giả Ma Nô Thoong Pông Sa Văn [33].