Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn với tổng thu bình quân hàng năm đạt hơn 130.000 tỷ đồng, đóng góp trên 5% GDP cả nước và tạo ra khoảng 1,3 triệu việc làm trực tiếp lẫn gián tiếp cho người lao động. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của Thành phố Hồ Chí Minh, Quận Thủ Đức giữ vị trí cửa ngõ phía Đông chiến lược, sở hữu nhiều tiềm năng phát triển phong phú từ các di tích lịch sử kiến trúc, điểm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng cho đến hệ sinh thái nhà vườn ven sông Sài Gòn và làng nghề truyền thống lâu đời.

Tuy nhiên, thực tiễn giai đoạn 2015 - 2017 cho thấy hoạt động du lịch tại địa phương vẫn phát triển mang tính tự phát, manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Công tác quản lý nhà nước về du lịch tại cấp quận bộc lộ nhiều điểm nghẽn: sự chồng chéo trong phối hợp liên ngành, công tác quản lý di tích và quy hoạch du lịch sinh thái thiếu tính đồng bộ, việc hỗ trợ bảo tồn làng nghề truyền thống chưa đạt hiệu quả cao, cùng với đó là năng lực thẩm định và hậu kiểm doanh nghiệp du lịch còn nhiều giới hạn.

Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về du lịch ở cấp chính quyền địa phương, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý trên địa bàn 12 phường thuộc Quận Thủ Đức giai đoạn 2015 - 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ du lịch địa phương đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản lý công hiện đại và lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Quản lý nhà nước về du lịch được xác định là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp luật, chính sách và các công cụ kinh tế - xã hội để định hướng, điều tiết, kiểm soát các hoạt động du lịch nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 chức năng quản lý nhà nước cốt lõi:

  1. Chức năng hoạch định: Xây dựng chiến lược, quy hoạch phân khu và kế hoạch hành động phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch chung của thành phố.
  2. Chức năng tổ chức và phối hợp: Thiết lập bộ máy quản lý chuyên trách, phân định rõ thẩm quyền quản lý theo chiều dọc giữa Sở Du lịch với Ủy ban nhân dân quận, và theo chiều ngang giữa các phòng ban chuyên môn cấp quận.
  3. Chức năng điều tiết và can thiệp thị trường: Ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư, hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, định hướng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đô thị sang du lịch sinh thái nhà vườn.
  4. Chức năng kiểm soát: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về kinh doanh lưu trú, lữ hành, an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường và giữ gìn di tích lịch sử - văn hóa.

Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: chủ thể quản lý nhà nước, khách thể quản lý du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn - tự nhiên, và cơ chế phân cấp hành chính lãnh thổ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học.

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Du lịch năm 2017, Nghị quyết số 92/NQ-CP, Quyết định số 4692/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân Quận Thủ Đức, niên giám thống kê giai đoạn 2015 - 2017 và hồ sơ kiểm kê của 12 phường. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu khảo sát và phỏng vấn sâu chuyên gia.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát với cỡ mẫu gồm 120 đối tượng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu định ngạch có chủ đích (purposive sampling). Cụ thể: 15 cán bộ quản lý thuộc Phòng Văn hóa và Thông tin, Ủy ban nhân dân các phường và ban quản lý di tích; 25 đại diện doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú; 80 khách du lịch tham quan tại các điểm di tích và cơ sở nhà vườn.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp lý thuyết và so sánh đối chiếu (benchmarking) với bài học quản lý du lịch tâm linh tại Chùa Hương (huyện Mỹ Đức, Hà Nội với hơn 1,5 triệu lượt khách/năm) và mô hình bảo tồn di sản gắn với du lịch sinh thái tại Thành phố Hội An (Quảng Nam). Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác các khoảng trống trong quản lý thực tiễn tại một địa bàn đô thị hóa nhanh như Quận Thủ Đức. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được hoàn thiện trong khung thời gian 2015 - 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quận Thủ Đức giai đoạn 2015 - 2017 đã chỉ ra những kết quả cụ thể:

Thứ nhất, về mạng lưới cơ sở lưu trú và dịch vụ lữ hành: Toàn quận có 51 cơ sở lưu trú du lịch với quy mô 824 phòng. Tuy nhiên, chỉ có 8/51 cơ sở được thẩm định, xếp hạng sao (chiếm tỷ lệ 15,7% tổng số cơ sở) với 169 phòng, bao gồm 6 cơ sở đạt chuẩn 1 sao và 2 cơ sở đạt chuẩn 2 sao. Về dịch vụ lữ hành, quận có 19 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có 6 doanh nghiệp lữ hành quốc tế (chiếm 31,6%) và 13 doanh nghiệp lữ hành nội địa (chiếm 68,4%). Đáng chú ý, theo đánh giá của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015, trên địa bàn quận chưa có bất kỳ cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm nào đạt chuẩn phục vụ khách du lịch.

Thứ hai, về công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên du lịch: Địa bàn sở hữu các công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị cao như Nhà thờ Thủ Đức xây dựng từ năm 1880 với khuôn viên rộng 6.468 m2, chùa Châu Hưng, chùa Sùng Đức, mộ cụ Tạ Dương Minh. Mặc dù công tác kiểm kê hiện vật được duy trì đều đặn 6 tháng một lần và đã triển khai trùng tu 4 di tích lớn từ năm 2014, nhưng nhiều di tích kiến trúc cổ khác như đình Bình Thọ, đình Linh Đông vẫn trong tình trạng xuống cấp, các chi tiết chạm khắc gỗ bị ngấm nước mưa và mối mọt do nguồn kinh phí tu bổ còn hạn chế.

Thứ ba, về sự suy giảm của làng nghề truyền thống và sản phẩm du lịch đặc trưng: Làng nghề nem Thủ Đức từng có hàng trăm lò sản xuất nhộn nhịp quanh chợ Thủ Đức, nay chỉ còn khoảng 3 cơ sở sản xuất kinh doanh cầm chừng gồm Thiên Hương Viên, Năm Hiếu và Bà Chín (giảm hơn 95% về số lượng cơ sở). Các chương trình du lịch trải nghiệm làng nghề do các hãng lữ hành như Nắng Việt, Xuyên Á, Trường Hải khai thác trước đây đều phải dừng hoạt động do thiếu sự liên kết đồng bộ giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp.

Thứ tư, về công tác bảo vệ môi trường và áp lực hạ tầng: Toàn bộ 12/12 phường của quận đều đạt chuẩn quốc gia về y tế và hệ thống giao thông có các tuyến xe buýt số 06, 08, 29, 56 cùng tuyến Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên dài 19,7 km đi qua. Tuy nhiên, tại các khu vực phát triển du lịch sinh thái nhà vườn ven sông như phường Hiệp Bình Chánh, Linh Đông, việc xây dựng bờ kè tư nhân chưa theo quy hoạch chuẩn, 100% lượng rác thải và nước thải du lịch tại các điểm tự phát ven sông chưa được xử lý đồng bộ, tạo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ thực trạng phát triển dưới mức tiềm năng của du lịch Quận Thủ Đức. Khi trình bày dữ liệu qua biểu đồ phân bố cơ sở lưu trú xếp hạng và bảng so sánh các chỉ tiêu dịch vụ du lịch qua các năm 2015 - 2017, khoảng cách giữa năng lực quản trị công và yêu cầu phát triển kinh tế thị trường hiện rõ.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương còn mỏng. Phòng Văn hóa và Thông tin quận phải đảm nhiệm đa lĩnh vực (văn hóa, thông tin, thể thao, gia đình, di tích và du lịch), dẫn đến việc bố trí cán bộ chuyên trách cho mảng du lịch bị phân tán. Thêm vào đó, việc triển khai phân cấp quản lý theo Quyết định số 4692/QĐ-UBND còn gặp nhiều vướng mắc trong khâu hậu kiểm doanh nghiệp lữ hành và thẩm định lưu trú theo cơ chế một cửa liên thông.

So sánh với kinh nghiệm quản lý du lịch tại Hội An (nơi có gần 100 hộ may mặc lấy nhanh và quy hoạch dãn dân 4 - 5 km để bảo vệ vùng lõi di sản) và huyện Mỹ Đức - Hà Nội (thu hút 1,5 triệu khách du lịch tâm linh nhưng khách quốc tế chỉ chiếm dưới 2% do thiếu dịch vụ liên kết), Quận Thủ Đức đang lặp lại hạn chế về việc thiếu vắng các sản phẩm du lịch bổ trợ và liên kết chuỗi giá trị. Địa phương chưa xây dựng được cơ chế phối hợp ba nhà: Nhà nước - Doanh nghiệp lữ hành - Cộng đồng dân cư, khiến khách tham quan đến các điểm tôn giáo tâm linh chủ yếu là khách vãng lai, thời gian lưu trú ngắn và mức chi tiêu bình quân thấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đưa du lịch Quận Thủ Đức phát triển bền vững, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  1. Hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch và thể chế quản lý: Ủy ban nhân dân Quận Thủ Đức cần chủ trì rà soát, lồng ghép quy hoạch phát triển du lịch vào Đồ án điều chỉnh quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 khu dân cư dọc Quốc lộ 13 (phường Hiệp Bình Phước) và khu dân cư Hiệp Bình Chánh - Linh Đông. Xây dựng quy chuẩn thiết kế hạ tầng bờ kè ven sông đồng bộ, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính liên thông xuống dưới 15 ngày làm việc đối với đăng ký kinh doanh dịch vụ du lịch.
  2. Khôi phục, bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với phát triển sản phẩm OCOP: Phòng Kinh tế phối hợp cùng Phòng Văn hóa và Thông tin quận lập đề án hỗ trợ tài chính, trích ngân sách hỗ trợ 30% - 50% kinh phí xây dựng nhãn hiệu tập thể, chứng nhận an toàn thực phẩm cho các lò nem truyền thống (Năm Hiếu, Thiên Hương Viên, Bà Chín) trong giai đoạn 2018 - 2020, tạo điều kiện đưa sản phẩm vào các kênh phân phối hiện đại và trung tâm thương mại Vincom Plaza.
  3. Phát triển hạ tầng kết nối và tour tuyến liên kết vùng: Đón đầu cơ hội vận hành tuyến Metro số 1 dài 19,7 km (dự kiến vận chuyển từ 186.000 đến hơn 600.000 lượt khách/ngày), quận cần chủ động phối hợp Sở Giao thông Vận tải và Sở Du lịch TP.HCM thiết lập 2 bến thủy nội địa đạt chuẩn du lịch trên sông Sài Gòn, kết nối các tuyến xe buýt hiện hữu (tuyến 06, 08, 29, 56) để hình thành tuyến tour mẫu "Du lịch tâm linh - Làng nghề truyền thống - Sinh thái nhà vườn ven sông".
  4. Nâng cao năng lực bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực: Tổ chức tối thiểu 4 đợt thanh tra, hậu kiểm chuyên ngành/năm đối với 100% cơ sở lưu trú và kinh doanh ăn uống trên địa bàn; liên kết cùng Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức tổ chức 2 - 3 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du lịch cộng đồng và kỹ năng hướng dẫn viên cho hơn 200 lượt cán bộ, chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân các quận/huyện và Sở Du lịch: Cung cấp khung phương pháp đánh giá thực trạng phân cấp quản lý, kinh nghiệm thiết lập quy chế phối hợp liên ngành và mô hình quản lý tài nguyên du lịch ở các địa bàn đang trong quá trình đô thị hóa nhanh.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Du lịch học, Kinh tế phát triển: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với ngành dịch vụ không khói, phương pháp khảo sát thực địa kết hợp đối chiếu mô hình quản trị địa phương.
  • Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư dịch vụ: Nguồn dữ liệu thị trường thực tế về hạ tầng lưu trú, điểm đến di tích và tiềm năng khai sinh các tour du lịch sinh thái đường sông gắn với hệ thống vận tải công cộng khối lượng lớn.
  • Ban quản lý các khu di tích, cơ sở tôn giáo và chủ thể làng nghề truyền thống: Cung cấp giải pháp thực tế về quy trình kiểm kê hiện vật, bảo tồn kiến trúc cổ và phương thức liên kết chuỗi giá trị nhằm thương mại hóa sản phẩm bản địa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Thực trạng cơ sở lưu trú du lịch tại Quận Thủ Đức trong giai đoạn nghiên cứu như thế nào?
Quận Thủ Đức ghi nhận 51 cơ sở lưu trú với 824 phòng, tuy nhiên chỉ có 8 cơ sở được xếp hạng đạt chuẩn (chiếm 15,7%) với 169 phòng (gồm 6 khách sạn 1 sao và 2 khách sạn 2 sao). Năng lực phục vụ lưu trú chất lượng cao cho khách du lịch dài ngày còn nhiều hạn chế.

2. Điểm nhấn nổi bật của tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh tại Thủ Đức là gì?
Địa bàn sở hữu các công trình kiến trúc tôn giáo, lịch sử giá trị như Nhà thờ Thủ Đức xây dựng từ năm 1880 trên khuôn viên 6.468 m2, chùa Châu Hưng, chùa Thiên Phước, chùa Sùng Đức và khu mộ cụ Tạ Dương Minh. Đây là những điểm đến thu hút hàng ngàn lượt khách vào các dịp lễ lớn nhưng chưa được kết nối thành tour chuyên nghiệp.

3. Vì sao tour du lịch làng nghề nem Thủ Đức trước đây không giữ chân được khách du lịch?
Nguyên nhân chủ yếu do số lượng lò nem truyền thống suy giảm nghiêm trọng từ hàng trăm cơ sở xuống còn 3 hộ sản xuất nhỏ lẻ, thiếu không gian trải nghiệm thực tế đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm và thiếu sự hỗ trợ quảng bá bài bản từ phía cơ quan quản lý nhà nước.

4. Tuyến Metro Bến Thành - Suối Tiên tạo động lực gì cho du lịch địa phương?
Tuyến Metro số 1 dài 19,7 km chạy qua địa bàn với năng lực vận chuyển từ 186.000 khách/ngày (giai đoạn đầu) lên đến 1.000.000 khách/ngày (đến năm 2040), đóng vai trò trục xương sống kết nối du khách từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh đến các điểm tham quan văn hóa, sinh thái của quận trong thời gian ngắn.

5. Điểm đột phá cần thực hiện trong công tác quản lý nhà nước về du lịch cấp quận là gì?
Đó là kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành một cửa trong thẩm định, hậu kiểm cơ sở lưu trú theo Quyết định số 4692/QĐ-UBND, kết hợp lồng ghép quy hoạch du lịch sinh thái nhà vườn vào quy hoạch phân khu đô thị tỷ lệ 1/2.000 của địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với ngành du lịch ở cấp chính quyền quận/huyện.
  • Phân tích bức tranh thực trạng du lịch Quận Thủ Đức giai đoạn 2015 - 2017 thông qua các số liệu xác thực về 51 cơ sở lưu trú, 19 doanh nghiệp lữ hành, 4 di tích trọng điểm và sự suy giảm của làng nghề nem truyền thống.
  • Nhận diện rõ 4 rào cản lớn trong quản lý: bộ máy chuyên trách phân tán, phân cấp hậu kiểm chưa thông suốt, sản phẩm du lịch thiếu tính độc đáo và hạ tầng xử lý môi trường chưa đồng bộ.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch không gian, hỗ trợ tài chính cho làng nghề, phát triển du lịch đường thủy và nâng cấp hạ tầng kết nối Metro số 1.
  • Định hình lộ trình thực thi giai đoạn 2018 - 2025 với sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các viện trường đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp lữ hành nhằm chuyển hóa Quận Thủ Đức thành điểm đến du lịch sinh thái - văn hóa đặc sắc tại cửa ngõ phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh.