phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quản lý nhà Nƣớc về đất đai Chƣơng 2: Thực trạng tăng cƣờng quản lý Nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2017 Chƣơng 3: Xu hƣớng biến động đất đai và định hƣớng, giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.1 Lý luận về quản lý và quản lý Nhà nƣớc Về bản chất giai cấp của nhà nƣớc, V.Lênin khẳng định: Nhà nƣớc là sản phẩm và biểu hiện thông qua những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa đƣợc. Bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, về mặt khách quan, nếu không giải quyết đƣợc thì nhà nƣớc xuất hiện để điều tiết. Và sự tồn tại của nhà nƣớc chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa đƣợc.Taylor, quản lý là việc nắm đƣợc chính xác điều mà đối tƣợng quản lý làm, qua đó biết đƣợc họ đã hoàn thành công việc nhƣ thế nào. Mục tiêu của quản lý là nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.Taylor; 1911] Là cha đẻ của lý thuyết quản lý hiện đại, theo Henry Fayol thì quản lý gồm có năm yếu tố cơ bản cấu thành đó là sự dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra giám sát.
[Henry Fayol; 1916] Khi nói đến vai trò quản lý C.Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”.Ăng-ghen; tr.480] Quản lý Nhà nƣớc là hoạt động thực hiện mang tính quyền lực Nhà nƣớc và sử dụng chính sách pháp luật để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội đƣợc thực hiện bởi cơ quan Nhà nƣớc nhằm duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hƣớng thống nhất của nhà nƣớc. Chủ thể quản lý Nhà nƣớc: các cá nhân và tổ chức đƣợc nhà nƣớc trao quyền, gồm cơ quan tƣ pháp, hành pháp và lập pháp. Đối tƣợng quản lý: các cá nhân, tổ chức trong nƣớc.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Có thể hiểu rằng, QLNN là hoạt động điều hành có tính tổ chức đƣợc thực hiện trên cơ sở pháp luật thông qua cơ quan Nhà nƣớc.2 Lý luận về đất đai Đất đai vừa là đối tƣợng lao động, vừa là tƣ liệu lao động có nguồn gốc từ tự nhiên, biểu hiện dƣới hình thái mặt đất với diện tích cụ thể và những đặc tính tƣơng đối ổn định về khí hậu, thổ nhƣỡng, địa chất, thuỷ văn, động thực vật sống trên đó. Theo FAO thì đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó [ FAO; 1976] Đất đai là tài sản mãi mãi gắn với con ngƣời, là điều kiện cần để sinh tồn, và là điều kiện quan trọng để sản xuất, là tƣ liệu cơ bản của sản xuất vật chất.Ăng-ghen; 1995] Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tƣơng đối ổn định hoặc thay đổi nhƣng có tính chu kỳ, có thể dự đoán đƣợc, có ảnh hƣởng tới việc SDĐ trong hiện tại và tƣơng lai của các yếu tố tự nhiên, KT - XH nhƣ: thổ nhƣỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cƣ trú và hoạt động sản xuất của con ngƣời. Đất đai có tính cố định, không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác và đất đai không giống hàng hóa thông thƣờng là có thể nảy sinh trong quá trình sản xuất, do đó đất đai có hạn về mặt diện tích. Đất đai đƣợc dùng canh tác có khả năng sản sinh ra một khối lƣợng lƣơng thực với số lƣợng lớn đủ để duy trì sự sống của ngƣời lao động.
Thông qua hoạt động sản xuất, đất đai là TLSX đặc biệt có mối quan hệ với hoạt động sản xuất của con ngƣời, tác động của con ngƣời làm thay đổi tính chất sử dụng đất đai, nhƣ một đám đất đƣợc canh tác sẽ có giá trị nhiều hơn một đám đất bị bỏ hoang. Trong điều kiện sản xuất TBCN, đầu tƣ vào đất đai biến đất đai thành tƣ bản. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, đất đai trở thành đối tƣợng để trao đổi mua bán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đất đai có tính đa dạng và phong phú, với nhiều loại nhƣ đất cát, đất đỏ, đất phèn, đất xám, đất phù sa,…nên đòi hỏi con ngƣời phải biết sử dụng và khai thác một cách hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm.
Đất để phát triển đô thị là đất nội thành và đất ngoại thành đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quy hoạch để sử dụng vào mục đích phát triển đô thị. Đất đô thị vừa là tƣ liệu sản xuất, vừa là tƣ liệu sinh hoạt, đƣợc thể hiện tƣ liệu sản xuất dùng vào mục đích kinh doanh để xác định không gian đất và tƣ liệu sinh hoạt dùng cho các công trình nhà ở, bao gồm đất chuyên dùng, đất nông nghiệp, đất an ninh quốc phòng, đất ở, đất dùng cho mục đích công cộng và đất chƣa sử dụng.3 Lý luận về quản lý nhà nƣớc về đất đai Theo Liên Hiệp Quốc, thì quản lý đất đai là quá trình lƣu trữ và cập nhật những biến động về thông tin sở hữu, giá trị, quyền sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất đai. Quản lý đất đai thực chất là quản lý tài nguyên đất dƣới phƣơng diện kinh tế và môi trƣờng. Nhà nƣớc quản lý thông tin chính xác về hiện trạng SDĐ; số lƣợng và chất lƣợng đất đai và tiến hành phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch SDĐ.
Bên cạnh đó, còn quản lý công tác chuyển nhƣợng QSDĐ, giao đất, cho thuê đất,.; thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi thu từ đất nhƣ thu thuế và thu tiền SDĐ. Nhà nƣớc thƣờng xuyên thanh tra, giám sát các quá trình phân phối đất đai nếu phát hiện các vi phạm sẽ xử lý. Các hoạt động trên nhằm mục tiêu thực hiện quyền sở hữu của Nhà nƣớc về đất đai. “Quản lý nhà nƣớc về đất đai là tổng hợp các hoạt động tổ chức và điều chỉnh của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nƣớc đối với đất đai; đó là các hoạt động quản lý tình hình sử dụng đất; phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch đồng thời tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai”.
[Nguyễn Hoàng Khắc Sơn; 21] Nhà nƣớc sử dụng các công cụ QLNN về đất đai bao gồm công cụ tài chính (thuế, phí và lệ phí, giá đất), công cụ quy hoạch (công cụ quan trọng nhất để phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 bổ quỹ đất hợp lý, hiệu quả) và công cụ pháp luật (bảo vệ sự bằng đẳng giữa những ngƣời sử dụng đất và bắt buộc các đối tƣợng SDĐ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nƣớc).2 Các lý thuyết kinh tế liên quan đến quản lý Nhà nƣớc về đất đai 1.1 Lý luận của các nhà kinh tế học tƣ sản cổ điển Địa tô là là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, vì vậy quan hệ sở hữu về địa tô đã đƣợc các nhà kinh tế học tƣ sản cổ điển đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Địa tô đƣợc các nhà KTCT tƣ sản cổ điển quan tâm nghiên cứu nhƣ W.Ricardo, sau khi KTCT cổ điển Anh xuất hiện.Mác là ngƣời phát triển và đƣa lý luận địa tô lên đến tầm cao mới vào cuối thế kỷ XIX. Lý luận về địa tô của W.Petty cho rằng: địa tô là khoảng chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất bao gồm chi phí tiền công và giá trị của giống. Ông đã dựa vào địa tô để xác định giá cả ruộng đất.
Lý thuyết về giá trị và sản phẩm thuần túy của F.Quesnay cho rằng sản phẩm thuần túy là khoảng chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất, là số dƣ ra sau khi trừ tiền lƣơng và hao phí cho trồng trọt trong lĩnh vực nông nghiệp. Sản phẩm thuần túy biểu hiện ra bên ngoài là địa tô, là phần nhà tƣ bản và công nhân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp phải nộp lại cho chủ sở hữu ruộng đất, địa chủ. Lý luận về địa tô của A.Smith cho rằng: khi ruộng đất bị tƣ hữu hóa thì địa tô là khoản tiền trả cho việc SDĐ. Độc quyền tƣ hữu ruộng đất là điều kiện để chiếm hữu địa tô.
Ông cho rằng địa tô là sản phẩm của tự nhiên, sự sản sinh địa tô là kết quả tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp, là thù lao mà địa chủ và chủ sở hữu ruộng đất thu đƣợc. Địa tô có đƣợc là do năng suất lao động trong công nghiệp thấp hơn trong nông nghiệp. Lý luận địa tô của D.Ricacdo cho rằng: địa tô đƣợc hình thành theo quy luật giá trị, địa tô không phải là sản phẩm của tự nhiên mà là kết quả do lao động của ngƣời công nhân làm nên. iá trị nông sản đƣợc hình thành trong điều kiện ruộng đất tệ nhất, vì diện tích ruộng đất có hạn nên xã hội phải canh tác trên chính những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mảnh đất xấu đó.
Do tƣ bản kinh doanh trên mảnh đất tốt và trung bình thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch, địa chủ thu giữ khoản lợi nhuận này là địa tô. Địa tô càng cao thì xã hội sẽ bất ổn thiếu lƣơng thực. Mác Lý luận địa tô của C. Mác cho rằng sự hình thành quan hệ sản xuất TBCN là cơ sở hình thành địa tô TBCN.