Chương 1: Cơ sở lý luận QLNN về đào tạo ngành mỹ thuật trong các trường Đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Chương 2: Thực trạng QLNN về đào tạo chuyên ngành mỹ thuật trong các trường ĐH trên địa bàn TP Hà Nội. - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng QLNN về đào tạo ngành mỹ thuật trong các trường Đh trên địa bàn TP Hà Nội. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGÀNH MỸ THUẬT TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Các khái niệm liên quan 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” đã được các nhà khoa học nhận định đa dạng như sau : Theo tác giả F. Taylor thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” [14, tr. Theo tác giả Henry Fayol thì “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [14, tr.
Theo tác giả Hoàng Chúng thì “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên khuyến khích họ trong quá trình lao động” [12]. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê thì “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiểu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra” [26]. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý.
Như vậy có thể xem quản lý là cách thức tổ chức để đạt mục đích quản lý bằng chi phí thấp nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Đặc điểm cơ bản của quản lý: - Quản lý là hoạt động có mục đích, được xác định cấu trúc của tổ chức để điều chỉnh các mối quan hệ. - Quản lý có những mối quan hệ của sự lựa chọn thành phần cụ thể tạo nên quá trình điều khiển như một tổng thể. Nó có những quy định về mối liên hệ trên, dưới, ngang, dọc, trong, ngoài.
11 - Trong quá trình quản lý việc đưa ra quyết định và thực hiện quyết định được tiến hành tuần tự theo các bước nhất định [28]. Có bốn chức năng cơ bản của quản lý: - Lập kế hoạch là việc đưa ra quyết định, lựa chọn lựa phương hướng, đường lối, hành động mà tổ chức nào đó và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức, là nền tảng của quản lý. - Tổ chức: Là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tổ chức.
Tổ chức bao gồm việc xác định một cơ cấu định trước. Tổ chức là hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, là công cụ của quản lý. - Lãnh đạo, chỉ đạo: Là quá trình tác động đến con người, điều khiển họ, làm cho họ tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. - Kiểm tra: là việc đánh giá kết quả, là đo lường và điều chỉnh các họat động của việc thực hiện các mục tiêu nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm để phát huy hoặc điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.
Trong các chức năng thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất [28]. * Mục tiêu của quản lý giáo dục: Mục tiêu là yếu tố cơ bản của hệ thống quản lý. Có nhiều loại mục tiêu quản lý: - Mục tiêu lâu dài, mục tiêu trước mắt. - Mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận.
- Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể. * Các nguyên tắc của quản lý giáo dục: - Tính Đảng: Trước hết là làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương chính sách giáo dục trở thành hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo duy nhất của toàn bộ công tác giáo dục đào tạo. 12 - Tính khoa học, thực tiễn: Trong quản lý người quản lý phải nắm được cơ sở khoa học. Khoa học và quản lý giáo dục phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, luật học … - Tính tập trung dân chủ: Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo sự thống nhất tổ chức và trình độ cao của hệ thống đồng thời đảm bảo phát huy cao độ các khả năng tiềm tàng, trí tuệ tập thể.
Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trưởng với chế độ dân chủ, tập thể trong quản lý. Thực chất nguyên tắc rộng rãi này đảm bảo cho kỷ luật chặt chẽ. - Tính pháp chế: Đây là nguyên tắc cần thiết vì nó giúp điều hành và quản lý bằng pháp luật cả về mặt tổ chức và hoạt động. Quản lý nhà nước về giáo dục đòi hỏi không những việc thực hiện nghiêm luật pháp của nhà nước mà còn vận dụng kết hợp những quy phạm pháp quy với những yếu tố đặc thù của ngành giáo dục để xây dựng và thực hiện một hệ thống quy phạm, quy chế giáo dục.
- Tính hiệu quả: Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức và quản lý. Muốn đạt hiệu quả cao, người quản lý phải nắm được những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý. * Các phương pháp quản lý giáo dục - Phương pháp tổ chức hành chánh - Phương pháp kinh tế - Phương pháp tâm lý xã hội Các phương pháp kinh tế, tâm lý – xã hội thuộc loại các tác động gián tiếp nhưng muốn có hiệu lực cần được thể chế hóa bằng các quyết định có tính chất pháp lý. Như vậy, giữa các phương pháp không có sự tách rời, càng không có sự đối lập.
Chúng điều tiết các mối quan hệ hành chính, tổ chức, tâm lý, kinh tế xã hội. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là điều hành của bộ máy nhà nước, hoạt động của các tổ chức nhà nước trên các phương diện luật pháp, hành pháp và tư pháp. Hay có thể hiểu là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân lao động làm chủ” Quản lý nhà nước còn được biết là quá trình tổ chức, quá trình điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật. Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ quản lý nhà nước đã đề ra.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng sư phạm - xã hội. Ở đây chứa đựng nhiều quy luật thuộc các lĩnh vực khác nhau. Vì thế, việc áp dụng nhiều phương pháp quản lý là điều đương nhiên. Người quản lý không nên tuyệt đối hóa một phương pháp nào và tùy tình huống cụ thể mà vận dụng những phương pháp thích hợp để đạt được hiệu quả cao nhất.
Khái niệm quản lý giáo dục cũng được nhận định ở cấp độ vi mô và vĩ mô như sau: - Ở cấp độ vi mô “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [23, tr 36]. - Quản lý giáo dục hay còn được hiểu là quản lý trường học, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [19]. 14 - “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31]. Từ những nhận định trên có thể hiểu hiểu quản lý giáo dục là một loại quản lý xã hội chuyên quản lý tổ chức hoạt động của ngành giáo dục (mà sản phẩm là nhân cách học sinh) trên phạm vi cả nước hoặc từng địa phương, từng trường học nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc phát triển nền giáo dục.
Quản lý giáo dục có thể được xem xét ở hai cấp độ khác nhau là quản lý vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) và cấp độ vi mô (quản lý trường học). Quản lý trường học là quản lý giáo dục trong một trường học cụ thể, “quản lý trường học là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ mô-quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến” [23, tr16]. Các chức năng quản lý giáo dục: Hoạt động quản lý thường được chuyên môn hóa và được gọi là chức năng quản lý. Quản lý giáo dục có một số chức năng cơ bản sau: + Kế hoạch hóa + Xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý + Thông tin + Dự báo 15 + Soạn thảo và ra quyết định + Công tác ngân sách kinh phí + Tổ chức thực hiện quyết định + Điều chỉnh phối hợp chỉ đạo hành chính + Kích thích (vật chất, tinh thần) + Kiểm tra + Tổng kết Các chức năng trên có vị trí khác nhau và được thực hiện hoặc đồng thời, hoặc trước hoặc sau.