Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN 1. Một số khái niệm liên quan tới đề tài 1. Quản lý Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước nhà nước, có tính chất là lao động xã hội hoặc tập thể được thực hiện trên quy mô lớn. Hoạt động quản lý là sự thể hiện khả năng tổ chức, điều chỉnh các hoạt động, tương tác giữa người và người.
Do đó, quản lý là một công việc có ý thức được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và tự nhiên. Quản lý là một chức năng lao động xuất phát từ lao động của nhiều người (một cộng đồng, tập thể), trong quá trình lao động, do yêu cầu phải có sức mạnh để cùng làm một công việc, người lao động phối hợp, liên kết với nhau, hợp lại thành tập thể. Từ đó, nảy sinh yêu cầu cần phải tổ chức, phân công và quản lý lao động. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì hoạt động quản lý trở thành một công việc tất yếu của xã hội và có sự phân công rõ ràng trong những phạm vi nhất định.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều khiến các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [60; tr. Theo đó, có thể hiểu "quản" là chịu trách nhiệm gìn giữ, trông nom theo các tiêu chí cụ thể, trong khi "lý" có nghĩa là hệ thống hóa và điều chỉnh các hoạt động theo các tiêu chuẩn đã định. Bản thân quản lý là một quá trình gồm nhiều phần, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và điều phối hiệu quả tất cả các nguồn lực sẵn có (bao gồm con người, trí lực, kỹ thuật và tài chính) để hướng tới một mục tiêu chung. Mục đích của nó là thiết lập trật tự và hiệu quả trong bất kỳ hoạt động nào mà nó chi phối.
9 Theo giáo trình Khoa học quản lý, của Vũ Văn Tiến [63] thì quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ bản chất xã hội của lao động. Về bản chất, quản lý là một hoạt động có mục tiêu của con người, bao gồm việc phối hợp hành động của những người khác để đạt được kết quả mong muốn. Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể hiểu: quản lý là quá trình thực hiện một loạt các hoạt động khác nhau mà phải trả lời các câu hỏi sau: Ai sẽ quản lý? (đối tượng quản lý). Ai quan tâm? quản lý cái gì? (đối tượng/đối tượng quản lý); Nó được quản lý như thế nào? (Phương pháp quản lý); Quản lý dùng để làm gì? (công cụ quản lý); Quản lý làm gì? (mục tiêu quản lý).
Như vậy, có thể đi đến khái niệm quản lý: Quản lý là sự kiểm soát có hệ thống và chiến lược của chủ thể quản lý đối với các đối tượng và khách thể quản lý. Mục đích của quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực và cơ hội trong một môi trường luôn thay đổi để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Điều này làm cho quản lý trở thành một phần không thể thiếu của tất cả các quá trình xã hội, bất kể chúng diễn ra dưới hình thức nào và có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của các tổ chức và quốc gia. Hoạt động quản lý có mục đích rõ ràng và liên quan đến việc lập kế hoạch, tư duy chiến lược, thiết lập mục tiêu, ra quyết định, tổ chức và huy động các nguồn lực, tài chính và thông tin để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả.
Để đạt được mục tiêu này, hoạt động quản lý dựa vào hai yếu tố chủ yếu là chủ thể quản lý (ra quyết định) và khách thể quản lý (chịu ảnh hưởng của các quyết định do chủ thể quản lý đưa ra). Quản lý nhà nước Hiện nay, thuật ngữ “quản lý nhà nước” (QLNN) đã trở nên có phổ biến trong các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, cơ quan nhà nước; trong các công trình nghiên cứu, văn kiện, tài liệu… Tuy nhiên, sự thống nhất khái niệm QLNN là rất khó, nhiều tác giả vẫn đưa ra các khái niệm khác nhau liên quan đến chủ đề, đề tài bài viết, công trình nghiên cứu. 10 Vai trò quản lý của Nhà nước đối với mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội là hết sức quan trọng; dùng pháp luật để QLNN; các tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền, luật pháp để thay mặt Nhà nước QLNN. Khái niệm về QLNN rất nhiều, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu sâu QLNN về CTTN nói chung để từ đó nắm chắc, hiểu rõ và đề ra một số giải pháp, khuyến nghị QLNN về CTTN trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thanh niên Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hiện hành (khóa XII, nhiệm kỳ 2022 - 2027): “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một thành viên của hệ thống chính trị nước ta và là thành viên tập thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [54]. Khái niệm thanh niên được ghi rõ trong Điều 1 của Luật Thanh niên năm 2020: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Từ quy định độ tuổi thanh niên, chúng ta thấy ở Việt Nam, thanh niên là lực lượng đông đảo trong cơ cấu dân số (chiếm 25,6% dân số và 34% lực lượng lao động xã hội); thanh niên có mặt ở tất cả các lĩnh vực, địa bàn, như: nông thôn, công chức và viên chức, học sinh và sinh viên, trong công an, quân đội… Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lương chủ đạo, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng, kiến thiết và bảo vệ quê hương, đất nước. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, thanh niên không chỉ đóng góp trí tuệ, chất xám trong nghiên cứu khoa học chung toàn thế giới mà thanh niên còn có vị trí, vai trò quan trọng trong bảo vệ gìn giữ hòa bình không chỉ một quốc gia mà còn trên phạm vi thế giới.
Công tác thanh niên Công tác thanh niên được hiểu là tất cả những hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc dành cho thanh niên. Mục đích là để thanh niên có điều kiện để phát triển lành mạnh, có ích; là quá trình tạo ra môi trường tốt nhất của chế độ để thanh niên sống, học tập, rèn luyện và đóng góp cho xã hội, cho đất nước và nhân loại. Ở Việt Nam, CTTN chính là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với công dân có độ tuổi từ 16 – 30; CTTN nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu, trưởng thành, đồng thời, để thanh niên có cơ hội phát huy sức trẻ, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. CTTN được Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định là một nội dung rất quan trọng trong mọi thời kỳ cách mạng.
Đảng và Nhà nước luôn dành nhiều ưu ái để thanh niên rèn luyện, cống hiến và phát triển. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước luôn quan tâm đặc biệt, tổ chức, giáo dục, rèn luyện, tạo điều kiện thuận lợi để lôi cuốn, tập hợp thanh niên tham gia tích cực, hiệu quả vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Không phụ sự mong đợi của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thanh niên Việt Nam đã phát huy truyền thống và bản sắc dân tộc; phát huy vai trò của tuổi trẻ, thi đua học tập rèn luyện, học tập, sáng tạo; luôn xứng đáng với niềm tin yêu, tin cậy của Đảng và Nhân dân. Như vậy, CTTN được hiểu là tập hợp, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thanh niên; đưa thanh niên vào tổ chức, có hành động cách mạng, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước; xây dựng và phát triển đất nước.
Quản lý nhà nước về công tác thanh niên QLNN về CTTN là sự tác động hướng đích của cơ quan quản lý hành chính đến hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên và cá nhân thanh niên bằng 12 các công cụ, biện pháp chính sách, pháp luật, quy định, quy chế, làm cho hoạt động của tổ chức thanh niên phù hợp với định hướng, mục tiêu của Nhà nước, tổ chức, đoàn thể đã đề ra. QLNN đối với CTTN chính là công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các ban ngành, tổ chức cùng phối hợp thực hiện các công việc đối với hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên; đối với thanh niên trong xã hội, trên địa bàn dân cư. QLNN về CTTN gồm cả các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức của Đoàn thanh niên, Hội Thanh niên, Câu lạc bộ thanh niên. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thanh niên Trong suốt qua trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến CTTN, đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết về CTTN.
Đảng luôn nêu rõ: “Thanh niên là rường cột nước nhà”, là “chủ nhân tương lai của đất nước”; Đảng ta luôn đề cao vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích, là vấn đề sống còn của một dân tộc…; Đảng cúng luôn quan tâm đến việc đào tạo, rèn luyện lực lượng thanh niên. Văn kiện Đại hội của Đảng ở tất cả khóa, đặc biệt là từ khóa VI (1986) – khóa XIII (2021) đều đã dành nội dung cho CTTN và phát triển thanh niên. Báo cáo cũng đề ra những nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và xã hội đối với thanh niên: “Tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp; làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nhiều chương trình, chiến lược của quốc gia đối với CTTN và phát triển thanh nhiên cũng được liên tục đề cập triển khai từ khi thành lập Đảng đến nay (1930 – nay).