Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp 1.1 Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và hội nhập kinh tế E. Peterson (1986) đã đánh giá những yếu tố góp phần làm thay đổi chuyển đổi kinh tế nông nghiệp tại Mỹ và mô tả kinh nghiệm của châu Âu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, và cho rằng đây là những bài học quan trọng đối với Mỹ, nơi không có chính sách điều chỉnh cơ cấu một cách cụ thể.
Trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng nước Mỹ nên tập trung vào các phương pháp để giảm bớt chi phí điều chỉnh chứ không phải về những nỗ lực để ngăn chặn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Richard (1997) đã phân tích những khó khăn, thách thức trong thời gian vận dụng chính sách tự do hóa thương mại đối với nông nghiệp như: Việc làm, cơ cấu lao động, năng suất lao động. là những vấn đề cản trở sự phát triển của nông nghiệp, theo đó, hạn chế việc thu hút đầu tư. Qua đó, tác giả cho rằng vai trò của Nhà nước rất quan trọng trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, vì vậy, nhà nước cần chủ động can thiệp để khắc phục những khó khăn, nhằm nâng cao năng suất lao động, thu hút các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong xã hội để phát triển nông nghiệp [95].
Du Ying (2000) đề cập đến việc điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và cải cách kinh tế, đánh giá tác động của việc tái cấu trúc đối với nông nghiệp Trung Quốc khi gia nhập WTO. Theo tác giả việc nghiên cứu về tác động của việc gia nhập WTO của ngành nông nghiệp Trung Quốc là rất quan trọng, thấy được những thách thức và cơ hội đang tồn tại sau khi gia nhập WTO. Tác giả cũng lập luận rằng, những thách thức trong ngắn hạn đã được thấy rõ, cơ hội chỉ có được khi Chính phủ có những nỗ lực tích cực. Vì vậy, những thách thức mà Trung Quốc đang phải đối mặt sau khi gia nhập WTO sẽ được đánh giá một cách kỹ lưỡng để đưa ra chính sách cho phù hợp [86].
luan an ` 7 Barbara Chmielewskan (2009) đã cho rằng, các ngành nông nghiệp ít có cơ hội phát triển nếu không có sự hỗ trợ tài chính của chính phủ EU, đặc biệt là tại các nước kém phát triển. Do vậy, các giải pháp chính trị cho các vấn đề về phát triển nông nghiệp trong các chính sách của EU là rất quan trọng và đề nghị giải pháp có lợi cho tất cả các nước EU là sự phát triển đa ngành của nông nghiệp với sự đa chức năng của khu vực nông thôn. Chỉ có một sự phát triển đa ngành, đa chức năng mới có thể đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững.[84] Gertrud Bucherieder (2010), đã phân tích những thay đổi về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của các nước vừa gia nhập liên minh Châu Âu. Qua sự phân tích, tác giả đã đưa ra phương pháp điều tra xác định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước đây và trong tương lai [88].
Nhóm tác giả Ian Coxhead, Kim N.B Ninh, Vu Thi Thao, Nguyen Thi Phuong Hoa (2010) có các công trình nghiên cứu thuộc chương trình “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 2011-2020” đã trình bày tổng quan về phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam: Nông nghiệp với tăng trưởng kinh tế; gia tăng thu nhập cho khu vực nông thôn. Đồng thời, cũng đề cập đến sự phát triển nông nghiệp ở một số quốc gia châu Á: Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Phillippines… để so sánh với nông nghiệp Việt Nam trên các phương diện: đóng góp của nông nghiệp vào GDP, năng suất lao động nông nghiệp, bình quân đất nông nghiệp/ người… từ đó, các tác giả phân tích đưa ra lựa chọn chính sách phát triển nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2020 gợi mở cho Chính phủ Việt Nam.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước trong nông nghiệp Hầu hết các các học giả nước ngoài khi nghiên cứu vấn đề phát triển nông nghiệp đều xem xét QLNN về nông nghiệp như một thành tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp của các quốc gia trên thế giới. Với tư cách QLNN, chính phủ các quốc gia đã tạo môi trường thể chế và hành lang pháp lý thuận lợi giúp kinh tế nông nghiệp phát triển; đồng thời cũng điều tiết và khắc phục những thất bại của thị trường trong quá trình phát triển. Một số tác phẩm tiêu biểu như: Uaiene, R.
(2017) trong tác phẩm “Các nhân tố quyết định việc áp dụng công nghệ nông nghiệp ở Mozambique” cho rằng yếu tố quan trọng nhất tác động đến phát triển nông nghiệp là thể chế và con người. Khi tiếp cận yếu tố thể chế, các tác giả quan tâm đến vấn đề xây dựng hệ thống chính sách và ra các quyết định cho các lĩnh vực trong sản xuất nông nghiệp; cơ chế liên kết giữa luan an ` 8 các tác nhân tham gia sản xuất; cơ chế cung cấp và chia sẻ thông tin về công nghệ mới, về thị trường các yếu tố đầu vào – đầu ra và xuất khẩu; cơ chế tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, cơ chế tiếp cận tín dụng để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.Như vậy, các học giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề quan trọng nhất trong QLNN đối với nông nghiệp đó là tạo cơ chế để thực hiện các chính sách cho phát triển nông nghiệp., Norton (2004) trong khi nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiê ̣p đã cho thấy kinh nghiê ̣m quan tro ̣ng là Nhà nước phải có chính sách đảm bảo nông nghiê ̣p phát triển trong bố i cảnh toàn cầu hóa và biế n đổi khí hâ ̣u. Ông chỉ ra rằng, viê ̣c phát triển nông nghiê ̣p phải dựa trên cơ sở hiê ̣n đại hóa và phát triển nông sản theo chuỗi giá trị có tính tới ứng phó với biế n đổi khí hâ ̣u ngà y càng gay gắt. [93] Lars Andersson và cộng sự (2017) trong tác phẩm “Nông nghiệp trong tương lai đến năm 2030”, đã đưa ra quan điểm, định hướng phát triển nông nghiệp của Thụy Điển đến năm 2030 trong các kịch bản khác nhau trong tương lai như: một thế giới mà tài nguyên đất bị khai thác quá mức, một thế giới cân bằng khi tài nguyên đất được khai thác và bảo tồn hiệu quả….Để đưa ra các giải pháp cho phát triển nông nghiệp của đất nước này, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của QLNN trong việc xây dựng định hướng và chính sách để thực hiện 7 phương án đó là: (1) Tìm kiếm và ứng dụng công nghệ mới cho một tương lai bền vững, là động lực cho sự phát triển nông nghiệp; (2) Xuất khẩu các giá trị gia tăng sang châu Á; (3) Hình thành và phát triển các công ty, các tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông nghiệp; (4) Sự thay đổi cơ cấu dân số, hội nhập nông thôn mới và sự di chuyển của các loại hình lao động; (5) Sinh thái thông minh, sản xuất lương thực và vai trò của hệ sinh thái xanh, sạch phù hợp với các qui luật tự nhiên; (6) Phát triển nền nông nghiệp 4.0 có truy xuất nguồn gốc rõ ràng; (7) Định hình các mô hình phát triển nông nghiệp tương lai của thế giới.
[83] Các tác giả Humphrey, J, and Schmitz, H. ( 2001) trong cuốn Vai trò của Nhà nước trong chuỗi giá trị toàn cầu đã phân tích vai trò của Nhà nước trong việc tạo cơ chế vận hành cho chuỗi giá trị nông sản. Các tác giả này đã tập trung xem xét vấn đề hoàn thiện cơ chế phối hợp ngang và dọc giữa các cơ quan QLNN về thực hiện chuỗi giá trị nông sản. Theo họ, các tổ chức liên quan của Nhà nước phải được coi là một trong những tác nhân trên kênh marketing (không chỉ là người can thiệp) ngay cả ở trong nền kinh tế thị trường.
Điều này không có nghĩa là các cơ quan nhà luan an ` 9 nước tham gia trực tiếp vào các hoạt động thương mại như các công ty quốc doanh mà chính họ cung cấp sản phẩm và dịch vụ “công cộng” trên kênh marketing cho các tác nhân khác để cho họ có một “sân chơi” công bằng hơn. Hoạt động chính của các cơ quan nhà nước bao gồm xác định các ưu tiên phát triển, xây dựng chính sách có liên quan, đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng, cung cấp thông tin và tổ chức thị trường.Đồng thời nhóm tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức QLNN trong quản lý chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp. [89] Nghiên cứu của các tác giả Kaaya (1999); Phougat (2006); Samah và cộng sự (2009) đã chỉ ra để phát triển nông nghiệp nói chung, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì chính phủ, chính quyền các nước cần quan tâm đến vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhất là trong truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm nông nghiệp [90] [92] Báo cáo Phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới năm 2008 đã hướng dẫn cho các chính phủ và cộng đồng quốc tế khi thiết kế và thực thi các chương trình nông nghiệp cho phát triển. Báo cáo gồm 3 vấn đề chính: (i) Nông nghiệp có thể làm gì để góp phần vào phát triển khi nông nghiệp được coi là nền tảng của phát triển và giảm nghèo tại nhiều quốc gia; (ii) Công cụ hữu hiệu để sử dụng nông nghiệp vì sự phát triển là gì? (iii) Và làm thế nào để thực hiện tốt nhất các chương trình nghị sự nông nghiệp vì sự phát triển? Giải quyết các vấn đề trên bằng cách thiết kế các chính sách và quá trình ra quyết định phù hợp nhất với điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia và huy động sự hậu thuẫn chính trị và cải thiện công tác quản trị nông nghiệp.
Đáng lưu ý trong báo cáo ở chương 11 với tiêu đề: “Tăng cường quản trị từ địa phương đến toàn cầu” đã nêu rõ vai trò mới của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp đó là: điều phối, tạo điều kiện thuận lợi và điều hành.