Luận văn ThS: QLNN giảm nghèo bền vững Trà Bồng, QN (Hồ Thị Bích Giang)

Phân tích quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

137
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và giám sát các chính sách nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách có hiệu quả, lâu dài. Ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, công tác này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do địa bàn miền núi, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chính sách giảm nghèo bao gồm hỗ trợ sản xuất, giáo dục, y tế, nhà ở và tiếp cận pháp lý. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc ban hành cơ chế, phân bổ nguồn lực và điều phối hoạt động giữa các cấp chính quyền. Mục tiêu hướng tới là nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền. Công tác giảm nghèo bền vững gắn liền với phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng an ninh và ổn định xã hội.

1.1. Khái niệm giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là quá trình giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách có chiều sâu, có hiệu quả lâu dài. Không chỉ dừng lại ở việc nâng thu nhập bình quân đầu người. Bao gồm cải thiện toàn diện về y tế, giáo dục, nhà ở và tiếp cận thông tin. Mục tiêu là người nghèo tự vươn lên thoát nghèo, không phụ thuộc vào trợ cấp. Tính bền vững thể hiện ở khả năng duy trì kết quả giảm nghèo qua nhiều năm liền. Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

1.2. Vai trò của nhà nước trong giảm nghèo

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong công tác giảm nghèo bền vững. Các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương chịu trách nhiệm ban hành chính sách. Nội dung quản lý bao gồm xây dựng chiến lược, phân bổ ngân sách và tổ chức thực hiện. Nhà nước điều phối sự tham gia của các đoàn thể chính trị xã hội. Công tác giám sát, đánh giá giúp đo lường hiệu quả các chương trình giảm nghèo. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu dân giàu nước mạnh.

II. Thực trạng và thách thức giảm nghèo ở Trà Bồng

Huyện Trà Bồng nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi, là địa bàn miền núi khó khăn. Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Cor sinh sống bằng nông nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao so với bình quân toàn tỉnh. Địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn hạn chế phát triển kinh tế. Cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế còn thiếu thốn. Trình độ dân trí không đồng đều, nhiều hộ chưa tiếp cận được thông tin thị trường. Các chương trình giảm nghèo triển khai còn dàn trải, thiếu trọng tâm. Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế tại cơ sở. Công tác phối hợp giữa các ban ngành đôi khi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Thách thức lớn nhất là tạo sinh kế bền vững cho người nghèo sau khi thoát nghèo.

2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Trà Bồng có địa hình chủ yếu là đồi núi, diện tích đất canh tác hạn chế. Khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai bão lũ. Giao thông liên xã, liên thôn còn nhiều bất cập, đặc biệt vào mùa mưa. Kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhưng năng suất thấp. Công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển, cơ hội việc làm cho lao động nghèo ít. Thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với mức bình quân toàn tỉnh Quảng Ngãi.

2.2. Hạn chế trong công tác quản lý giảm nghèo

Công tác rà soát, thống kê hộ nghèo chưa chính xác, cập nhật kịp thời. Một số chính sách giảm nghèo thiếu tính thực tiễn, chưa phù hợp điều kiện địa phương. Nguồn vốn phân bổ còn dàn trải, chưa tập trung vào nhóm đối tượng trọng tâm. Đội ngũ cán bộ cơ sở còn mỏng, năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu. Việc kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách chưa thường xuyên. Truyền thông chính sách giảm nghèo đến người dân còn hạn chế, nhiều hộ chưa nắm rõ quyền lợi.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở Trà Bồng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp đặc thù miền núi. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho các chương trình mục tiêu giảm nghèo. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo tại cơ sở. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Xây dựng mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán địa phương. Tăng cường hợp tác liên kết vùng, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nghèo. Phát huy vai trò cộng đồng trong giám sát và thực hiện chính sách giảm nghèo. Đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức, khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên của người dân.

3.1. Hoàn thiện chính sách và tăng cường nguồn lực

Cần rà soát, điều chỉnh các chính sách giảm nghèo cho phù hợp thực tế Trà Bồng. Ưu tiên nguồn vốn ngân sách cho đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu. Mở rộng chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo phát triển sản xuất. Tăng cường hỗ trợ về giáo dục, y tế và nhà ở cho đối tượng nghèo. Đẩy mạnh chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động, tạo thu nhập ổn định. Huy động thêm nguồn lực từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp tham gia giảm nghèo.

3.2. Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ làm công tác giảm nghèo. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách tại cơ sở. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý hộ nghèo hiện đại, chính xác. Phân công rõ trách nhiệm giữa các phòng ban, đoàn thể trong phối hợp. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong tuyên truyền vận động. Xây dựng cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời các tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ.

IV. Kết luận và hướng phát triển giảm nghèo bền vững Trà Bồng

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở Trà Bồng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, đời sống nhân dân từng bước cải thiện. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Chính sách giảm nghèo còn bộc lộ sự manh mún, nhỏ lẻ, khó thực hiện hiệu quả. Truyền thông chính sách đến người nghèo chưa sâu rộng, nhiều hộ chưa nắm rõ quyền lợi. Thời gian tới, cần bám sát định hướng đổi mới chính sách để nâng cao hiệu quả. Mục tiêu hướng tới là giảm nghèo đa chiều, bền vững, không chỉ về thu nhập. Chú trọng phát triển sinh kế, tạo việc làm và nâng cao năng lực tự lực cho người nghèo. Giảm nghèo bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. Đây là nhiệm vụ trọng điểm, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân.

4.1. Đánh giá kết quả đạt được

Chương trình giảm nghèo ở Trà Bồng đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo đáng kể. Hệ thống chính sách hỗ trợ về giáo dục, y tế, nhà ở được triển khai rộng rãi. Nhiều hộ nghèo tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư cải thiện, đời sống vật chất tinh thần nâng lên. Công tác giảm nghèo gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, kết quả chưa đồng đều giữa các xã, thôn trong huyện.

4.2. Hướng phát triển trong thời gian tới

Trà Bồng cần xây dựng chiến lược giảm nghèo dài hạn, có tầm nhìn đến năm 2030. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm với thị trường trong và ngoài tỉnh. Đầu tư mạnh cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và triển khai chính sách giảm nghèo. Xây dựng mô hình giảm nghèo điển hình để nhân rộng ra toàn huyện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý công quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện trà bồng tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến Luận văn 1. Phát triển bền vững “Phát triển bền vững” là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo các nét đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội cũng như sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới-WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…”. Năm 1987 Ủy ban mặt trận và phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.

7 Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế-xã hội-môi trường. Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo - Đói, nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa.

Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác, sự thiếu thốn vật chất còn thể hiện ở những khía cạnh về địa lý. Thiếu thốn vật chất thể hiện ở khía cạnh địa lý là một vấn đề lâu đời trong lịch sử loài người.

Điểm khác biệt về đói nghèo trong thế kỷ 21 là vì các cá nhân: 8 Có ý thức hơn về sự thiếu thốn vật chất của bản thân. Nhìn nhận sự thiếu thốn vật chất một cách tiêu cực. Cảm thấy khó khăn trong việc vượt qua sự thiếu thốn vật chất. Điều này đúng ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương cũng như đúng cho toàn thế giới.

Việc không được đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản trong cuộc sống đã khiến cho con người có cảm giác không an toàn, dễ bị tổn thương và cảm thấy ‘thấp cổ bé họng’ trong mối quan hệ với người khác, là những dấu hiệu điển hình của những người thiếu thốn về vật chất. Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra quan điểm: nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Ủy ban Kinh tế-xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9/1993, cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.

Từ những quan niệm nói trên, có thể thấy rõ đói nghèo gồm những khía cạnh cơ bản như sau: - Đầu tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng. 9 - Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. - Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hay sức khoẻ. - Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, không được tham gia và không có quyền lực của người nghèo.

Quan niệm của Việt Nam, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Nhìn chung quan niệm về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chỉ là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi.

Điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Roberd Mc Namarra đã định nghĩa nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối…là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nghèo tương đối là “việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó”.

Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối 10 chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn”. - Xóa đói, giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Chính phủ quan tâm.

Vấn đề này đã được thể hiện trong các văn bản chính thức của Đảng và Chính phủ như trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng trong những khóa gần đây. Từ năm 1998 đến nay, Chính phủ đã đưa chương trình xóa đói, giảm nghèo thành Chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch đình kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương đến nay đã qua 3 giai đoạn: 1998-2000; 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015. Các chính sách, dự án hỗ trợ người nghèo hiện nay ở Việt Nam được phân theo các nhóm sau: i/ Nhóm các chính sách, dự án giảm nghèo chung - Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo - Hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo - Tổ chức các hoạt động khuyến nông-lâm-ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề. - Dạy nghề miễn phí cho người nghèo - Nhân rộng mô hình giảm nghèo - Hỗ trợ về y tế cho người nghèo - Hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo - Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở - Hỗ trợ nước sinh hoạt - Trợ giúp pháp lý miễn phi cho người nghèo - Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin.

11 ii/ Các chính sách đặc thù (đối với hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số và đối với huyện nghèo, xã nghèo) và hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, đối tượng yếu thế. iii/ Các hoạt động về truyền thông, nâng cao năng lực và giám sát đánh giá. Giảm nghèo bền vững Ý tưởng giảm nghèo bền vững PGS-TS Trần Đình Thiên cho rằng, “không thể giúp người nghèo thoát nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Đây là cách xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững.

Muốn xóa nghèo bền vững, Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ