phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Chƣơng 4: Khuyến nghị giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Xây dựng và phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trƣớc xu thế coi việc xây dựng các KCN và KCX nhƣ một giải pháp quan trọng để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở các nƣớc đang phát triển, một số hội nghị, hội thảo, các công trình nghiên cứu về KCN đã đƣợc phổ biến. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề xây dựng và phát triển KCN ở các mức độ và nội dung khác nhau về cả mặt lý luận và thực tiễn. Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này nhƣ: Một số sách và tài liệu chuyên khảo về xây dựng và phát triển KCN, CCN: TS Phạm Đình Tuyển, 2001 đã phân tích việc lựa chọn quy hoạch KCN và chủ yếu là vị trí đặt KCN.TS Nguyễn Đình Phan và GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, 2007 đã phân tích chuyên sâu về việc tập trung hóa, tổ chức sản xuất và quy hoạch phát triển công nghiệp trên vùng lãnh thổ và các loại hình khu vực công nghiệp trong đó có KCN đã đƣợc đề cập đến tại chƣơng 10.TS Lê Thế Giới, 2008 đã tập trung luận giải những vấn đề cốt lõi của phát triển bền vững KCN, đề xuất hệ thống các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững KCN và các giải pháp tăng cƣờng tính bền vững trong phát triển bền vững các KCN Việt Nam.TS Lê Thế Giới, 2009 đã bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết CCN và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phƣơng. Từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với CCN và hệ sinh thái kinh doanh.
Và trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, tác giả đƣa ra các khuyến nghị trong trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam. [7] Các công trình nghiên cứu về KCN tiêu biểu: Nguyễn Xuân Hinh, 2003 đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN Việt Nam và đề xuất các giải pháp về quy hoạch xây dựng nhằm phát triển các KCN của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. [14] Trần Ngọc Hƣng, 2004 đã đã đƣa một loạt các giải pháp hoàn thiện và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, trong đó có các KCN quy mô nhỏ , các CCN, KCN và KCX. [19] Nguyễn Thị Thu Hƣơng, 2004 đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tƣ để thu hút và lấp đầy các KCN của Việt Nam.
[12] Nguyễn Mậu Tăng, 2010 đã đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm xây dựng CSHT CCN ở Hà Nội. [11] Ngoài ra còn có tài liệu trong các Hội nghị, Hội thảo chuyên đề về xây dựng và phát triển các KCN: Hội nghị - Hội thảo Quốc gia, Bộ KH&ĐT, 2006 đã nhìn nhận lại những thành tựu đạt đƣợc, những hạn chế và kinh nghiệm xây dựng và phát triển KCN, KCX ở nƣớc ta, kiến nghị phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển, nâng cao chất lƣợng hoạt động của các KCN, KCX. Hội thảo đã có 106 bài viết của nhiều tác giả trong đó có 66 bài viết về những vấn đề chung trong xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam; 36 bài viết về thực tiễn hoạt động KCN gắn với quy hoạch phát triển theo địa phƣơng, vùng lãnh thổ; 04 bài viết về hoạt động của các KKT. [1] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2004, cả nƣớc đã có 6 hội thảo về phát triển KCN, KCX.
Hội thảo đã nhận đƣợc trên 40 bài tham luận và 16 ý kiến phát biểu. Các ý kiến phát biểu tại cuộc Hội thảo và các bài tham luận đã tập trung vào một số vấn đề cơ bản nhƣ: vị trí, vai trò của các KCN, KCX; quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về phát triển KCN, KCX; một số vấn đề lý luận về KCN, KCX; công tác quy hoạch phát triển các KCN, KCX; các chính sách liên quan đến phát triển KCN, KCX; những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém phát triển của các KCN phía Bắc so với các KCN phía Nam; tổ chức bộ máy QLNN đối với các KCN, KCX và vấn đề tạo động lực cho các KCN, KCX.2 Hoạt động quản lý các khu, cụm công nghiệp trên cả nước Đề tài cấp Bộ, Bộ KH&ĐT, 2002 đã giới thiệu kinh nghiệm quản lý các KCN, KCX của nƣớc ngoài, đánh giá những ƣu điểm và những hạn chế của mô hình quản lý hiện đang áp dụng tại Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các KCN, KCX trong thời gian tới. [3] TS Trƣơng Thị Minh Sâm, 2004 đã đánh giá một cách toàn diện tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía nam, những thách thức đặt ra đối với công tác QLNN về bảo vệ môi trƣờng, đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với vấn đề này ở các KCN, KCX thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Trần Duy Đông, 2015 đã khái quát chính sách pháp luật hiện hành về KCN, KCX, KKT; những ƣu điểm và hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT; từ đó đề xuất định hƣớng chính sách phát triển KCN, KCX, KKT đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.
Đánh giá chung các công trình nghiên cứu về khu, cụm công nghiệp và công tác quản lý khu, cụm công nghiệp Qua tìm hiểu và tổng hợp, có thể thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và phát triển các KCN cũng nhƣ các tài liệu nghiên cứu về 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vấn đề QLNN các khu, CCN trên những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về nội dung QLNN các khu, CCN nói chung và QLNN các CCN trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng. Vì vậy việc thực hiện đề tài luận văn sẽ không bị trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc tăng cƣờng công tác QLNN các CCN trên địa bàn tỉnh Nghệ An.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại cụm công nghiệp 1.1 Các khái niệm liên quan đến cụm công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất Theo Nghị Định số 29/2008/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này. KCN, KCX đƣợc gọi chung là KCN, trừ trƣờng hợp quy định cụ thể. Ở Nghệ An, theo Quyết định số 83 của UBND tỉnh Nghệ An ngày 04 tháng 09 năm 2009 ban hành quy định về chính sách hỗ trợ xây dựng hạ tầng các KCNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An: KCNN là nơi tập trung các DN sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do UBND tỉnh thành lập, giao cho UBND thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hòa và các huyện (gọi chung là UBND huyện) trực tiếp quản lý, có diện tích tối thiểu 05 ha đối với huyện miền núi, 10 ha đối với các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện còn lại và diện tích tối đa không quá 35 ha, có ranh giới xác định, không có dân cƣ sinh sống. KCNN chính là tên gọi của CCN tại tỉnh Nghệ an khi chƣa có Quyết định của Thủ tƣớng chính phủ về CCN.
Khái niệm cụm công nghiệp Hiện nay có sự định nghĩa không hoàn toàn giống nhau giữa các học giả, các tổ chức nƣớc ngoài và Việt Nam về CCN. Khái niệm CCN “Geographical clusters” hay “Industrial districts” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Alpred Marshall [8], xuất phát từ việc nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền Bắc nƣớc Anh. Theo Marshall, các CCN có ba lợi thế cơ bản từ sự tập trung, đó là: sự lan toả của thông tin, sự chuyên môn hoá và phân công lao động giữa các cơ sở với nhau và sự phát triển của thị trƣờng lao động đa dạng có tay nghề cao. Tiếp đó, khái niệm này đã đƣợc phát triển thành hai trƣờng phái tiếp cận công nghiệp khác nhau.
Các nhà nghiên cứu theo trƣờng phái Pháp nhƣ Courlet et Pecqueur, Colletis. gọi là các hệ thống sản xuất địa phƣơng. Các nhà nghiên cứu theo trƣờng phái Anh, Mỹ gọi là CCN “Industrial Cluster” hoặc “Industrial districts” với cách tiếp cận của Michael Porter. Michael Porter, 1990, CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau.
CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ các nhà sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ chức nhƣ trƣờng đại học, viện nghiên cứu, trƣờng đào tạo nghề và các hiệp hội thƣơng mại. [15] Bộ Kinh tế, Thƣơng mại và Công nghiệp (METI) của Nhật Bản, 2001, coi CCN là "sự tập trung công nghiệp với một mạng lƣới phát triển bao gồm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.