Chương I: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ở cấp tỉnh. Chương II: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới 10 chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương III: Phương hướng và giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở CẤP TỈNH 1.
Khái quát về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông 1. Giáo dục phổ thông 1. Khái niệm Từ Đại hội II năm 1951 đến trước thời kỳ đổi mới đất nước năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã đồng loạt ban hành nhiều chính sách về phát triển giáo dục nước nhà, nổi bật là hệ thống GDPT theo tính chất xã hội chủ nghĩa. Đến sau Đại hội VI, VII, lần đầu tiên Đảng ta có Nghị quyết chuyên đề về giáo dục với 4 quan điểm chỉ đạo và 12 chủ trương, chính sách lớn, nhấn mạnh là quan điểm “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc sách hàng đầu.
Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội”[2], quan điểm này vẫn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay. Sau đó, Luật Giáo dục đầu tiên của nước ta được Quốc hội khóa X thông qua năm 1998 tiếp tục xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[41].
Đây là văn bản Luật đầu tiên, tạo hành lang pháp lý vững chắc trong lĩnh vực giáo dục. Giáo dục luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển đất nước. Có giáo dục thì con người mới phát triển một cách vượt bậc và hoàn thiện nhất. Pháp luật Việt Nam luôn chú trọng tới vai trò của giáo dục từ những ngày đầu dựng nước.
Luật Giáo dục đã trải qua một chặng đường dài để hình thành và phát triển. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về giáo dục, theo Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam, 12 giáo dục được hiểu là quá trình đào tạo con người có mục đích, có hệ thống, có phương pháp, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội, lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người [37]. Song, dưới góc độ luận văn, tác giả tiếp cận và sử dụng khái niệm: “Giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành và phát triển nhân cách con người”[34, tr8]. Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam (Nguồn: Tổng Cục giáo dục nghề nghiệp) Giáo dục phổ thông là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân.
Thuật ngữ này được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, song đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về khái niệm và phạm vi xác định về GDPT. Đa phần các văn bản chỉ tiếp cận và đề cập đến GDPT thông qua hệ thống các bộ phần cấu thành, chưa nêu bật được quan niệm, góc nhìn và nhận định về thuật ngữ trên. Luật Giáo dục năm 2019, tại khoản 3 Điều 28 quy định: “Giáo dục phổ thông được chia thành giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Giai đoạn giáo dục cơ bản gồm cấp tiểu học và cấp trung học 13 cơ sở; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là cấp trung học phổ thông.
Học sinh trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp được học khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông”[47]. Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau về GDPT, mỗi cách phân loại đều dựa trên những tiêu chí khác nhau và đều hướng đến những mục đích khác nhau. Từ góc độ chủ thể cung ứng thì có thể chia thành GDPT công lập và GDPT ngoài công lập ngoài công lập (GDPT tư thục). Ngoài ra, GDPT có thể được phân loại theo cấp học: giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT.
Trong phạm vi của luận văn thì tác giả sử dụng và tiếp cận và phân tích các nội dung của GDPT ở phạm vi cả 3 cấp học: giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT. Mục tiêu chung của GDPT là: nhằm phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, kỹ năng cơ bản, khả năng phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo của người học; từ đó góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa; trang bị những kiến thức phổ thông nền tảng cho người học tiếp tục theo học bậc đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia thị trường lao động. Trong đó mục tiêu cụ thể được xác định như sau: - Giáo dục tiểu học: định hướng, hình thành những nền tảng kiến thức cơ sở ban đầu về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục vận dụng vào quá trình giáo dục ở bậc THCS. - Giáo dục THCS: củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục ở bậc tiểu học; trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông ở trình độ cơ sở cũng như những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật và định hướng nghề nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc tham gia lao động, thực hiện tốt việc phân luồng học sinh sau bậc THCS.
- Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh nâng cao những hiểu biết đã được truyền đạt ở bậc giáo dục THCS, hoàn thiện chuẩn kiến thức phổ thông và có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn, định hướng phát triển tương lai, tạo cơ hội cho người học tiếp tục theo học bậc đại học, tham gia học nghề hoặc đáp ứng chuẩn yêu 14 cầu của thị trường lao động. Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông Về thuật ngữ “Quản lý nhà nước” thì hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau, có tác giả cho rằng: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ Nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [33]. “Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do các cơ quan quản lý giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì trật tự, kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước. Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chính là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động GDĐT trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước” [34, tr113].
Mục tiêu QLNN về giáo dục và đào tạo, về tổng thể là đảm bảo trật tự, kỉ cương trong các hoạt động GDĐT để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nhân cách của công dân. Mỗi cấp học, ngành học có những mục tiêu cụ thể được quy định trong Luật Giáo dục và các điều lệ nhà trường. Nội dung QLNN về giáo dục được quy định cụ thể trong Luật Giáo dục bao gồm: Xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện khung pháp lý cho QLNN về GDĐT; Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và các quy định khác; Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục; Tổ 15 chức bộ máy quản lý giáo dục và tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và CBQL giáo dục; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục và tổ chức; quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.[47] Riêng dưới góc độ tiếp cận luận văn, về nội dung “Tổ chức, quản lí việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục”, song có thể thấy hiện nay, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, chủ động áp dụng nhiều giải pháp kiểm soát, xử lý những vấn đề mới phát sinh, nhưng quá trình triển khai thực hiện chương trình GDPT mới và biên soạn sách giáo khoa ban đầu còn nhiều hạn chế, vướng mắc cần rút kinh nghiệm.
Cùng với đó, nhiều hạn chế trong việc đảm bảo các điều kiện áp dụng chương trình, sách giáo khoa GDPT mới vào thực tiễn cần được nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và đề xuất điều chỉnh phù hợp, đảm bảo tính khả thi và chất lượng giáo dục. Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông 1.