CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU, CCDC TẠI CỔ PHẦN FALCON ĐỒNG TRÚC 1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu, CCDC tại Công ty 1. Đặc điểm nguyên vật liệu, CCDC sử dụng tại Công ty Công ty Cồ phần Falcon Đồng Trúc là một doanh nghiệp sản xuất các loại gạch Tuynel. Những loại gạch này được sử dụng rộng rãi trong xây dựng dân dụng.
Trong công trình thương mại, các loại gạch này được khai thác để sử dụng cho lát xây dựng và rất nhiều ứng dụng khác. Ngoài ra, công ty đang cố gắng phát triển thêm thị trường trong nước Cũng như trong bất kỳ doanh nghiệp sản xuất khác, NVL, CCDC tại công ty cũng mang các đặc điểm chung là: tài sản dự trữ thuộc tài sản ngắn hạn, là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh và là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm mới. Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất nói chung và tại Công ty CP Falcon Đồng Trúc nói riêng thì chi phí về NVL, CCDC chiếm một tỷ trọng lớn nhất (65 đến 75%) trong cơ cấu giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và là một bộ phận dự trữ sản xuất quan trọng nhất của doanh nghiệp. Do vậy, khi có biến động nhỏ về chi phí NVL, CCDC thì sẽ có ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm của Công ty.
Từ những đặc điểm trên cho thấy việc quản lý NVL, CCDC của Công ty có những nét riêng biệt và khó hạ thấp chi phí NVL, CCDC. Việc sử dụng tiết kiệm trong sản xuất là biện pháp tích cực nhằm hạ thấp giá thành thành phẩm góp phần không nhỏ vào nâng cao hiệu quả sản xuất. Vì vật cần phải quản lý chặt chẽ và hạch toán chi tiết chi phí NVL, CCDC đặc biệt đối với NVL chính. Vai trò của nguyên vật liệu, CCDC trong quá trình SXKD tại Công ty Tại công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc cũng như tất cả các doanh nghiệp sản xuất khác, vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất là vô cùng quan trọng.
Trong quá trình tạo ra sản phẩm thì NVL, CCDC đóng vai trò là nhân chủ yếu không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào. Vì quá trình sản xuất là quá trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu lao động để tạo ra các sản phẩm 3 phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và thị hiếu của khách hàng. Giai đoạn này một mặt doanh nghiệp bỏ ra các chi phí về NVL, CCDC và các yếu tố có liên quan để tiến hành sản xuất, mặt khác doanh nghiệp lại thu được một lượng kết quả sản xuất bao gồm thành phẩm và sản phẩm dở dang. Nguyên vật liệu đóng vai trò chủ yếu trong quá trình tạo ra sản phẩm, không có nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải ngừng sản xuất.
Mà trong các doanh nghiệp sản xuất như Công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc, gián đoạn trong sản xuất là điều tối kị. Và hơn nữa, chất lượng nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm đầu ra. Vì thế nên công tác thu mua, bảo quản và giám sát chất lượng NVL đầu vào luôn được chú trọng tại doanh nghiệp đảm bảo làm sao đủ vật liệu đúng tiêu chuẩn chất lượng để đưa vào sản xuất kinh doanh. Từ đó ta nhận thấy, NVL tại Công ty còn là một trong các nhân tố góp phần giúp cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình thường.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiêp sản xuất kinh doanh đó chính là lợi nhuận. Tuy nhiên để đảm bảo bù đắp được chi phí để có lãi đòi hỏi doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để tăng lượng kết quả thu được, giảm lượng chi phí chi ra mà trong đó chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ cao nhất. Vì thế giảm được chi phí NVL, CCDC đồng nghĩa với việc đem lại lợi nhuận cao hơn cho DN. Song để đạt được điều này không phải đơn giản mà điều kiện tiên quyết của doanh nghiệp là phải hạch toán nguyên vật liệu một cách rõ ràng hợp lý phù hợp với từng thời điểm cụ thể mà doanh nghiệp đang sản xuất.
Nếu công tác kế toán nguyên vật liệu đáp ứng được các yêu cầu cần thiết trong quá trình sản xuất sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược kinh doanh hiệu hơn. Phân loại nguyên vật liệu, CCDC tại Công ty Trong công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc, nguyên vật liệu có nhiều chủng loại, khác nhau. Chúng khác nhau về công dụng, tính năng lý - hóa học, quy cách, phẩm cấp, chất lượng. Hơn nữa NVL lại là loại tài sản thường xuyên biến động.
Do đó để phục vụ tốt cho việc quản lý và hạch toán NVL thì công ty cần thiết phải tiến hành phân loại NVL, CCDC một cách hợp lý. 4 Công ty đã phân loại NVL căn cứ vào vai trò và tác dụng của chúng trong sản xuất. Theo cách phân loại này nguyên vật liệu, CCDC của công ty được phân loại như sau: Nguyên vật liệu: - Nguyên vật liệu chính: Nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu của công ty và là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm bao gồm: Đất sét, than cám 3, than cám 7, cát. Nguyên vật liệu phụ: Tuy không phải là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên sản phẩm, nguyên vật liệu phụ chỉ là những vật liệu có tác dụng phụ phục vụ trong quá trình sản xuất tạo nên sản phẩm của công ty, nhưng khi được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính nó có tác dụng làm tăng chất lượng, mẫu mã của sản phẩm hoặc được sử dụng để bảo đảm cho công cụ lao động hoạt động bình thường hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý.
Ví dụ như: Dầu diesel, dầu mỡ, xăng, dầu thủy lực, dầu biến thế…. - Văn phòng phẩm: Văn phòng phẩm là các loại vật liệu trang bị cho công tác quản lý, hành chính ở các phòng ban khác trong công ty như: bút bi, bút chì, bút dạ, hồ dán, giấy các loại. - Phụ tùng thay thế Phụ tùng thay thế là các chi tiết, phụ tùng được sử dụng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất trong doanh nghiệp như: Vòng bi, dây đai, vít nở…. - Các vật liệu khác: + Phế liệu: Bóng điện compact, bóng điện tuýp….
+ Nhiên liệu: là những loại vật liệu cung cấp nhiệt lượng cho cơ sở sản xuất, máy móc sản xuất cũng như sử dụng cho các hoạt động khác trong công ty. Gồm có: dầu, xăng, điện, nước. 5 Phân loại công cụ dụng cụ: Để quản lý tốt công cụ dụng cụ thì công ty phân loại công cụ dụng cụ theo các loại sau: Dụng cụ đồ dùng khuôn mẫu, đúc,…. Đồ dùng dụng cụ quản lý (bàn, ghế, tủ, ấm chén.) Đồ dùng dụng cụ phòng hộ lao động: Quần áo, giầy dép, ủng bảo hộ.
Ngoài ra có một số tư liệu lao động không phân biệt giá trị và thời gian sử dụng được hạch toán vào công cụ dụng cụ như dụng cụ quản lý đồ dùng văn phòng, dụng cụ đồ nghề, thủy tinh. Do khối lượng và chủng loại vật tư của công ty là rất nhiều và đa dạng nên kế toán công ty lập sổ danh mục điểm nguyên vật liệu để việc phân loại và hạch toán nguyên vật liệu được dễ dàng và khoa học. Sổ danh mục điểm nguyên, vật liệu của công ty rất dài vì thế trong đây chỉ trình bày tóm tắt mẫu sổ của một số ít nguyên vật liệu, dụng cụ chính. Đặc điểm tính giá và luân chuyển nguyên vật liệu, CCDC tại Công ty 1.
Đặc điểm tính giá nguyên, vật liệu Tính giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của NVL, CCDC theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu chân thực và thống nhất. Tại công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc, các nghiệp vụ nhập, xuất NVL, CCDC được diễn ra thường xuyên, với mỗi lần nhập giá cả NVL, CCDC lại có sự khác nhau. Do đó việc xác định đúng đắn giá trị NVL, CCDC nhập hay xuất dùng là rất cần thiết. Hiện nay, công ty đang sử dụng giá trung bình cả kỳ dự trữ để đánh giá NVL, CCDC trong quá trình hoạt động.
Tính giá nguyên vật liệu, CCDC nhập kho Nguyên vật liệu, CCDC tại công ty chủ yếu là được mua từ bên ngoài về nhập kho. Giá thực tế của NVL nhập kho được áp dụng theo “điều 04 chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 về hàng tồn kho được ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ- BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài Chính”, nguyên vật liệu và CCDC nhập kho được tính theo nguyên tắc giá gốc, cho nên giá nhập kho nguyên vật liệu của công ty được tính theo công thức: 6 Giá thực Giá mua Giảm giá Chi phí tế nhập = ghi trên - hàng bán, + thu kho hóa đơn chiết khấu TM, mua Trong đó: - Giá mua ghi trên hóa đơn: Công ty hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên giá mua đây là giá chưa có thuế GTGT. - Giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại: Khi mua NVL với số lượng lớn được hưởng chiết khấu thương mại hoặc NVL của nhà cung cấp không đạt đúng tiêu chuẩn chất lượng như đã thỏa thuận, Công ty được giảm giá thì những khoản này đều được giảm trừ vào giá trị NVL đầu vào. - Chi phí thu mua bao gồm chi phi vận chuyển, chi phí bốc dỡ, tiền công tác phí của cán bộ thu mua.
Ví dụ 1: Công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc có nghiệp vụ mua đất như sau: Ngày 02/03/2015, để phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm, công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc đã nhập đất từ cá nhân tự khai thác là Ông Kiều Duy Khoa: 1. Công ty chưa thanh toán. Số NVL này do ông Kiều Duy Khoa vận chuyển đến theo như thỏa thuận giữa hai bên nên giá nhập kho NVL cũng chính là giá mua ghi trên hợp đồng và phiếu nhập. Ta có: Trị giá hàng mua: 1.800 đồng Giá thanh toán: 107.800 đồng Ví dụ 2: Ngày 02/03/2015, để phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm, công ty Cổ phần Falcon Đồng Trúc đã nhập đất từ cá nhân tự khai thác là Ông Đỗ Đăng Văn: 940 m3 đất đơn giá 56.
Công ty chưa thanh toán. Số NVL này do ông Đỗ Đăng Văn vận chuyển đến theo như thỏa thuận giữa hai bên nên giá nhập kho NVL cũng chính là giá mua ghi trên hợp đồng và phiếu nhập. Ta có: Trị giá hàng mua: 940 x 56.