Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nguồn vốn ODA. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng quản lý nguồn vốn ODA tại Bộ LĐTB&XH.
Chương 5: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn vốn ODA ở Bộ LĐTB&XH đến năm 2020. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận văn Bàn về vấn đề quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA sao cho có hiệu quả đƣợc công luận và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là sau vụ PMU 18. Về phía các bài báo khoa học, Đáng chú ý là các bài: “Bàn về vấn đề quản lý vốn ODA ở Việt Nam” (2009) của tác giả Hồ Hữu Tiến, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 2 (31), Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng; bài “Vốn ODA trong điều kiện mới” (2014) của Nguyễn Quang Thái và Trần Thị Hồng Thủy, đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 30, số 1.
Trong bài viết của mình, tác giả Hồ Hữu Tiến đã khái quát thành tựu thu hút, quản lý, sử dụng vốn ODA ở Việt Nam giai đoạn 2002 - 2006; trong đó nêu rõ: đã có sự phân công tƣơng đối rõ ràng giữa các cấp bộ, ngành trong vấn đề quản lý ODA. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong vấn đề này, nhƣ: tình hình thực hiện các dự án thƣờng bị chậm ở nhiều khâu: chậm thủ tục, chậm triển khai, giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân thấp; công tác theo dõi, đánh giá tình hình đầu tƣ ODA chƣa đầy đủ, còn nhiều hạn chế, đặc biệt là công tác theo dõi, thống kê, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của công trình sau đầu tƣ còn bỏ ngỏ; còn có sự chồng chéo trong thủ tục chuẩn bị và triển khai đầu tƣ. Tác giả Hồ Hữu Tiến cũng chỉ ra 4 nguyên nhân của những hạn chế này. Đó là: có quan điểm nhìn nhận chƣa đúng về nguồn vốn tài trợ ODA; cơ quan đàm phán trực tiếp với nhà tài trợ thƣờng là các bộ, ngành trong Chính phủ nên chủ đầu tƣ chƣa thấy hết tác động của những điều kiện khó khăn mà nhà tài trợ ràng buộc; nguyên tắc quan trọng nhất trong quản lý nguồn vốn ODA là “phải quản lý dựa vào kết quả” lại không thƣờng xuyên nhận đƣợc sự đồng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình từ phía các cơ quan chủ quản và chủ đầu tƣ các dự án ODA; năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ODA còn nhiều yếu kém chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu.
Từ đây, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA, trong đó đáng chú ý là các giải pháp: phải thống nhất nhận thức nguồn vốn ODA là một bộ phận ngân sách nhà nƣớc, là một phần nguồn lực tài chính quốc gia và tạo gánh nặng nợ nần cho ngƣời dân; cần quán triệt nguyên tắc quản lý vốn ODA phải căn cứ vào kết quả và hiệu quả; cần có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác quản lý vốn ODA theo hƣớng chuyên môn hóa. Có thể xem đây là những gợi ý bổ ích của bài báo cho học viên trong quá trình viết luận văn. Trong bài viết “Vốn ODA trong điều kiện mới”, tác giả Nguyễn Quang Thái và Trần Thị Hồng Thuỷ đã chỉ ra những khó khăn trong việc thu hút nguồn vốn ODA trong điều kiện nƣớc ta đã trở thành nƣớc đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp; đồng thời, đề xuất 7 giải pháp để sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả cao và có tác động lan tỏa trong nền kinh tế. Các giải pháp này chủ yếu liên quan đến khâu sử dụng nguồn vốn ODA chứ không trực tiếp liên quan đến vấn đề quản lý.
Liên quan đến góc độ quản lý nguồn vốn ODA, đáng chú ý là đề xuất của hai tác giả về việc sửa đổi Nghị định 38/2013/NĐ-CP của Chính phủ, khi quan hệ giữa Việt Nam với các nƣớc viện trợ ODA đã thay đổi: từ nƣớc nhận viện trợ, nƣớc ta đã chuyển sang quan hệ đối tác phát triển. Nhìn chung, cả hai bài báo khoa học nói trên đã cung cấp một số thông tin bổ ích cho học viên trong quá trình triển khai đề tài luận văn, nhất là những thông tin về hạn chế trong quản lý nguồn vốn ODA và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn ODA ở Việt Nam. Tuy nhiên, phạm vi bàn luận của hai bài báo ở tầm quốc gia, không phải là ở một bộ chức năng cụ thể nào, nhất là không bàn về quản lý nguồn vốn ODA ở Bộ LĐTB&XH. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Về phía các công trình nghiên cứu sau đại học, Đáng chú ý là một số luận văn Thạc sĩ, nhƣ: “Một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn ODA của ADB cho Việt Nam (2008) của Nguyễn Thị Ngọc Thọ, Đại học Ngoại thƣơng; “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2006) của Hoàng Kim Tú, Đại học Ngoại thƣơng; “Quản lý nhà nước về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” (2005) của Vũ Thị Thu Hằng, Đại học Ngoại thƣơng; “Một số giải pháp quản lý dự án sử dụng vốn ODA đầu tư cho xây dựng công trình giao thông đường bộ Việt Nam” (2004) của Lê Thị Hồng Hạnh, Đại học Ngoại thƣơng; “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn ODA tại Việt Nam” (2009) của Lê Thanh Nghĩa, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; “Quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA ở Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp” (2006) của Nguyễn Bảo Ngọc, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Các luận văn nói trên đã đề cập ở các góc độ khác nhau về nguồn gốc, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung, ở một địa phƣơng cụ thể nói riêng. Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thọ tập trung bàn vấn đề giải pháp thu hút ODA, nên vấn đề quản lý nguồn vốn này không phải là trọng tâm của luận văn. Tác giả Vũ Thị Thu Hằng đã phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc về nguồn vốn ODA trên phạm vi quốc gia; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công việc này mà học viên có thể tham khảo.
Đó là vấn đề thƣờng xuyên quan tâm đến việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý ODA; phân cấp rõ hơn trách nhiệm của các cấp (Chính phủ, các bộ) và các Ban QLDA trong quản lý nguồn vốn này; chăm lo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý theo hƣớng chuyên nghiệp đi đôi với bồi dƣỡng phẩm chất đạo đức trong sáng, v. Còn các tác giả: Hoàng Kim Tú, Lê Thị Hồng Hạnh, Lê 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thanh Nghĩa và Nguyễn Bảo Ngọc trong luận văn của mình đều chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý nguồn vốn ODA trên phạm vi cả nƣớc, hay trong một ngành (giao thông đƣờng bộ), một địa phƣơng cụ thể (thành phố Hồ Chí Minh) là do sự chồng chéo về thủ tục hành chính; năng lực, trình độ và phẩm chất của cán bộ trực tiếp quản lý dự án chƣa đáp ứng nhu cầu; năng lực và kinh nghiệm của các Ban QLDA tại Trung ƣơng và địa phƣơng, ngành còn nhiều hạn chế, nhất là về đấu thầu và quản lý hợp đồng, v,v. Trên cơ sở đó, các luận văn này đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA theo phạm vi nghiên cứu của từng luận văn. Tuy nhiên, các luận văn đã dẫn ở trên đều không đề cập đến việc quản lý nguồn vốn ODA ở một bộ cụ thể, nhất là ở Bộ LĐTB&XH.
Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Hầu hết các công trình nghiên cứu cũng nhƣ các bài báo khoa học và các luận văn nói trên đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích để học viên có thể nghiên cứu, tham khảo; song chƣa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề Quản lý nguồn vốn ODA ở Bộ LĐTB&XH. Do đó, đề tài nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ của học viên không trùng lặp với các công trình đã công bố. Vấn đề đặt ra đối với học viên trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn này là trả lời câu hỏi tại sao phải tăng cƣờng quản lý nguồn vốn ODA ở Bộ LĐTB&XH; đặc điểm nguồn vốn ODA tại Bộ LĐTB&XH là gì; quy trình quản lý nguồn vốn này ở Bộ ra sao; quá trình quản lý có thuận lợi, khó khăn gì; đâu là những hạn chế chính và giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA ở Bộ LĐTB&XH trong thời gian tới ? 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ODA 2. Bản chất của ODA và sự cần thiết phải tăng cƣờng quản lý 2.Các định nghĩa về ODA ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức.
Cho đến nay, chƣa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhƣng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều. Có thể thấy điều này qua ý kiến của một số tổ chức và cá nhân dƣới đây: OECD vào năm 1972 đã đƣa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức đƣợc thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nƣớc đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ƣu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Theo UNDP: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ƣu đãi của các tổ chức nƣớc ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.
Còn ở Việt Nam, theo PGS, TS. Nguyễn Quang Thái (Viện Chiến lƣợc phát triển), thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ƣu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nƣớc và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) [34].