Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực tại cơ sở đào tạo Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nguồn nhân lực tại Trường Trung cấp Y tế Hà Nội Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại Trường Trung cấp Y tế Hà Nội. CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LY NGUON NHÂN LỰC TẠI CƠ SỞ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Quản lý nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi tổ chức, đơn vị.
Do đó, nhiều học gia, nhà khoa học. đã công bồ các nghiên cứu về vấn đề này: Nhóm các công trình nghiên cứu VỀ vai tro quan ly nguon nhân lực Bùi Văn Nhơn (2006) nhắn mạnh rằng các quốc gia muốn phát triển thì phải dựa vào rất nhiều nguồn lực, tuy nhiên trong đó nhân lực luôn luôn là nguồn lực cơ bản và chủ yếu nhất cho sự phát triển. Tác giả đi sâu vào phân tích vai trò của nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội, những đặc điểm chủ yếu của nhân lực Việt Nam, các hình thức phát triển nhân lực và các chính sách phát triển nhân lực. Tiếp đó, Trần Kim Dung (2009) đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản trị nhân lực, các chức năng của quản trị nhân lực, thực trạng quản trị nhân lực ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.
Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của quản trị nhân lực được thé hiện qua 3 nhóm chức năng chính bao gồm: nhóm chức năng thu hút nhân lực, nhóm chức năng đào tạo và phát triển, nhóm chức năng duy trì nhân lực. Trần Thị Thu và Vũ Hoàng Ngân (201 1), đã cung cấp những khái niệm về tổ chức công, quản lý nhân lực trong các tô chức công, đưa ra các đặc điểm của nhân lực và quan lý nhân lực trong các tổ chức cong; giải thích được sự cần thiết của quản lý nhân lực trong các tô chức công và các nội dung của quản lý nhân lực trong tổ chức công. Nhóm các công trình nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực tại cơ sở đào tao Trương Thu Hà (2006) đã tiến hành khảo sát thực trạng công tác đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên của Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2000 - 2006. Đồng thời, chỉ ra được những nội dung của công tác đào tạo, phát triển đối với giảng viên của trường.
Tương tự, Đinh Hồng Vân (2014) đã tiến hành đánh giá thực trạng phát triển nhân lực giảng viên tại Trường Cao dang Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên, chỉ ra những hạn chế trong quá trình phát triển và nguyên nhân của tình hình, trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhân lực Trường Cao đắng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên. Có thể thấy, cả hai nghiên cứu này các tác giả chủ yếu tập trung vào một nội dung của quản lý nguồn nhân lực tại cơ sở đào tao đó là công tác dao tạo, phát triển đội ngũ giảng viên. Ninh Thị Thanh Bình (2014) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nhân lực trong các trường đại học, cao dang. Và trên nền tảng vận dụng những lý thuyết về khoa học quản lý và phát triển nhân lực trong một tổ chức dé phân tích rõ thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đăng Công nghiệp Hóa chất, qua đó đề xuất một số biện pháp củng cô và phát triển nhân lực cho Trường đến năm 2020 nhằm phù hợp với định hướng và đáp ứng yêu cầu phát triển đào tạo nhân lực cho Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.
Với đề tài này, tác giả chỉ dừng lại ở việc xem xét công tác phát triển nguồn nhân lực, trong khi đó, công tác thu hút và duy trì nguồn nhân lực vẫn chưa được tác giả chú trọng đến. Trương Thị Minh Trang (2020) đã phân tích thực trạng Quản lý nhân lực tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội, tác giả đã đề xuất được nhóm các giải pháp: Hoàn thiện xây dựng kế hoạch nhân lực; Hoàn thiện công tác xác định việc làm; Hoàn thiện công tác bố trí, sử dụng nhân lực; Đây mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dao tạo, bồi dưỡng; đổi mới công tác đánh giá nhân lực; Hoàn thiện công tác chế độ đãi ngộ và đây mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát công tác quản lý nhân lực. Ta Văn Phong (2021) đã đưa ra nhóm các giải pháp về: Hoàn thiện cổng tác phân tích công việc; Hoàn thiện công tác hoạch định nhân lực; Đồi mới cổng tác tuyên chọn và sử dụng nhân lực; Tăng cường công tác đào tạo và phát triển nhân luc; Chú trọng cổng tác tạo động lực cho người lao động và tăng cường và đôi mới phương pháp đánh giá thực hiện công việc. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài Dựa trên những đánh giá tổng quan ở trên, có thê nhận thấy rằng đã có rất nhiêu công trình nghiên cứu đê cập đên vân đê quản lý, phát triên nguôn nhân lực, phát triển đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao dang nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tao trong toàn ngành, đồng thời cũng đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tác giả cũng thấy còn nhiều khoảng trống khoa học cần tiếp tục được làm rõ như đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quản lý nguồn nhân lực và các nhân tô ảnh hưởng đến quản lý nguồn nhân lực ở các trường cao dang ngoài công lập ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý nguồn nhân lực giảng viên tại Trường Trung cấp Y tế Hà Nội. Do đó, nghiên cứu này xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan dé phục vụ cho mục đích nghiên cứu của minh. Đồng thời, tác giả cũng sẽ cố gắng đề cập thêm những van đề mà các công trình khác chưa có điều kiện làm rõ với hệ thống thông tin, số liệu cập nhật nhất về tình hình quản lý nguồn nhân lực của Trường Trung cấp Y tế Hà Nội. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực tại cơ sở đào tao 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “nguồn nhân lực ” “Nguồn lực cán bộ, giảng viên” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét cán bộ, giảng viên với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Tùy góc độ tiếp cận khác nhau và phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được xác định là lực lượng can bộ giảng viên hay khoa và phòng ban trong độ tuổi cán bộ giảng viên theo quy định và có khả năng giảng dạy và mong muốn công hiến.
Tổ chức Cán bộ giảng viên Quốc tế (ILO) định nghĩa: “Lực lượng cán bộ, giảng viên là một khoa và phòng ban, trong độ tuổi quy định, thực tế có những cán bộ, giảng viên không có việc làm, đang tích cực tìm việc làm”. Điều lưu ý ở đây là lực lượng lao động này phải tuân thủ quy định về độ tuổi. Đối với mỗi quốc gia, lãnh thổ khác nhau thì việc xác định độ tuổi lao động không giống nhau. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là tong nguồn lực cán bộ, giảng viên tồn tại trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ.
Nguồn nhân lực là một khoa và phòng ban hợp thành trong hệ thống các nguồn lực có khả năng huy động và có giá trị sử dụng tích cực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Theo quan điểm của kinh tế học chính thống, nguồn nhân lực là một trong các nguồn lực cơ bản đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Cụ thể các nguồn lực đó là: nguồn nhân lực, tài nguyên, nguồn lực khoa học - công nghệ và nguồn lực vốn. Theo David Begg và cộng sự (1995), nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà cán bộ, giảng viên tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng cán bộ giảng viên của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn cán bộ giảng viên được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia công việc nảo đó, tức là những cán bộ giảng viên có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyên đổi cơ cấu cán bộ, giảng viên, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo Nguyễn Hữu Dũng (2003), nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức cán bộ giảng viên cho xã hội, là khoa và phòng ban quan trọng nhất của dân số, có khả năng tao ra giá tri vật chất và tinh thần cho xã hội.
Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực dé đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đảo tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của cán bộ, giảng viên thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng cán bộ, giảng viên. Cán bộ, giảng viên với tiêm năng vô tận nêu được tự do phát triên, tự do sáng tạo và công hiến, được trả đúng giá trị cán bộ giảng viên thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn.