CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học, giảng viên của các học viện, các trường và khoa quản lý đã có công trình nghiên cứu được viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, tài liệu phổ biến kinh nghiệm quản lý nói chung và QLGD nói riêng. Các công trình nghiên cứu, bài giảng của một số tác giả về quản lý như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Lưu Xuân Mới…đã nêu lên một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục từ thực tiễn giáo dục Việt Nam và quốc tế, đặc biệt là thực tiễn đổi mới giáo dục nước ta trong những năm đầu thế kỷ 21. Tuy vậy, đó mới chỉ là những tài liệu nghiên cứu về hoạt động QLGD nói chung. Trên thực tế có rất ít tài liệu nghiên cứu về hoạt động LKĐT mặc dù nó là một xu hướng tất yếu trong các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong giai đoạn hội nhập với khu vực và thế giới.
Quy định về LKĐT trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học Ban hành kèm theo Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là căn cứ pháp lý quan trọng cho các hoạt động về LKĐT trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy Ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ- BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là căn cứ pháp lý cho công tác quản lý HSSV. Những năm gần đây có một số học viên cao học chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động QLGD nói chung và LKĐT nói riêng như: Nguyễn Thị Hiền với luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động học tập của học viên các lớp LKĐT hệ KCQ ở Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định” đã bước đầu phân tích thực trạng quản lý hoạt động học tập của học viên các lớp LKĐT hệ KCQ và đề xuất các giải 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp quản lý nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động học tập của học viên các lớp LKĐT ở Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định; Đặng Thị Phương với luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động LKĐT ở trung tâm giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên” đã phân tích thực trạng quản lý hoạt động LKĐT và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động LKĐT ở trung tâm giáo dục thường xuyên Phố Nối tỉnh Hưng Yên. Nhìn chung, vấn đề lý luận về LKĐT nói chung và quản lý người học các lớp LKĐT nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu chỉ dừng lại ở các văn bản quy định, các văn bản ký kết giữa các cơ sở giáo dục với nhau.
Do đó, cần có sự quan tâm của các nhà khoa học, nhất là khoa học quản lý giáo dục trong việc xây dựng hệ thống cơ sở lý luận từ thực tiễn hoạt động LKĐT để các cơ sở liên kết hoạt động đúng hướng và hiệu quả. Đề tài bước đầu sẽ tổng quan và khái quát hóa cơ sở lý luận về quản lý người học các lớp LKĐT. Đây là một điểm đóng góp của đề tài. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm quản lý. Để tồn tại và phát triển, ngay từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, con người đã liên kết với nhau thành nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên, đồng thời cũng xuất hiện một loạt các mối quan hệ: Quan hệ con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả con người với chính bản thân con người. Trong quá trình đó đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, cũng như điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý.
Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung và nó tồn tại, phát triển đến ngày nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [5, tr35 ] Theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [10, tr43 ] Ở Việt Nam xuất phát từ các góc độ khác nhau nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý: Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.15] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.17] Còn theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [5, tr20 Dù được hiểu theo cách nào về quản lý thì cũng cần quan tâm một số điểm sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc. - Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin. Tóm lại: Con người là độc đáo và phức tạp, họ có thể hoặc là đóng góp cho sự tiến bộ của tổ chức hoặc là nguyên nhân làm cho tổ chức bị tiêu huỷ.
Do đó, quản lý vừa là một khoa học vừa có tính nghệ thuật, nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống con người. Quản lý là sự chi phối và dẫn dắt mọi hoạt động của cá nhân, tổ chức đi đến một đích nhất định trong từng giai đoạn, hay xuyên suốt thời gian – không gian và ở đó tồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điều khiển được. Từ những quan điểm trên, chúng tôi lựa chọn theo quan điểm của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc để nghiên cứu trong luận văn này. Các chức năng quản lý Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý.
Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý. - Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác.
Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức. - Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất.
Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng. - Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Đây là quá trình tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu đề ra. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.